Công nghệ xanh

Bài học từ chiến lược cảng trung hòa carbon của Nhật, Trung Quốc

Cẩm Bình 29/08/2026 10:30

Nhật Bản và Trung Quốc - 2 cường quốc hàng hải hàng đầu châu Á - đều chọn mô hình phát triển cảng hiện đại hướng đến trung hòa carbon.

Trong chu kì đầu tư hạ tầng kho vận mới tại châu Á cũng như thế giới, cảng trung hòa carbon không còn là xu hướng tự nguyện mà đã trở thành tiêu chuẩn bắt buộc để nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng hàng rào kĩ thuật khắt khe về ESG.

Là 2 cường quốc hàng hải hàng đầu khu vực, Nhật - Trung triển khai chiến lược thiết lập hạ tầng cảng biển sử dụng năng lượng xanh, tối ưu hóa hiệu suất và bù đắp lượng carbon không thể cắt giảm từ rất sớm. Tuy nhiên chiến lược của mỗi nước lại có trọng tâm riêng, bước đi riêng.

Screenshot 2026-08-28 133600
Cảng trung hòa carbon trở thành tiêu chuẩn bắt buộc để nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng ESG. Ảnh: Logistics Manager

Nhật chuẩn hóa và thiết lập hệ sinh thái hydro

Nhật đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) tại tất cả cảng biển vào năm 2050. Chiến lược của nước này mang tính hệ thống, quản trị thông qua luật định và tập trung vào hạ tầng năng lượng sạch tương lai.

Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch (MLIT) ban hành hệ thống chứng nhận cảng trung hòa carbon 5 cấp độ, đánh giá năng lực giảm phát thải từng cảng một cách khắt khe. Các tiêu chí đánh giá bao gồm thiết bị xếp dỡ phát thải thấp, hệ thống đặt lịch xe tải, mạng lưới đèn LED chiếu sáng, năng lực tiếp nhận tàu dùng nhiên liệu sạch. Kết quả đánh giá được công khai, chứng nhận có giá trị 3 năm – đòi hỏi đơn vị vận hành cảng phải xanh hóa thực chất và liên tục.

Chuỗi cung ứng hydro cùng ammoniac đóng vai trò trọng tâm năng lượng. Cụm cảng lớn như cảng Yokohama, cảng Chiba, cảng Kobe được quy hoạch thành trung tâm tiếp nhận - phân phối năng lượng thế hệ mới. Nhật đẩy mạnh nhập khẩu hydro, amoniac xanh, methanol sinh học đồng thời phát triển hạ tầng cung cấp cho các khu công nghiệp lẫn nhà máy phát điện ven biển lân cận vốn đóng góp đến 40% lượng phát thải của thành phố cảng.

Một trụ cột nữa là điện khí hóa đồng bộ hàng hải nội địa. Nước này nâng cấp hạ tầng lưới điện mạnh mẽ nhằm hỗ trợ nguồn điện bờ và sạc pin cho đội tàu vận tải ven biển chạy điện.

Hiện hệ thống chứng nhận cảng trung hòa carbon chưa bắt buộc tàu kết nối nguồn điện bờ. Lượng lớn phế phụ phẩm nông lâm nghiệp của Nhật chưa được tận dụng cho phát triển nguồn nguyên liệu sinh khối bền vững – yếu tố cần thiết để sản xuất nhiên liệu hàng hải ít phát thải. Ngoài ra tàu chạy bằng khí hóa lỏng (LNG) vẫn còn được hưởng ưu đãi phí cập cảng.

Screenshot 2026-08-28 133624
Sơ đồ nguồn điện bờ sạc pin cho tàu chạy điện. Ảnh: Offshore Energy

Trung Quốc tự động hóa quy mô lớn và tự chủ năng lượng sạch

Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về số lượng cảng tự động hóa hoàn toàn. Cảng Thiên Tân hay cảng Duy Phường là điển hình cho mô hình cảng trung hòa carbon thông minh, tự chủ 100% năng lượng bằng hàng loạt trang trại điện gió lẫn điện mặt trời ngay tại chỗ. Lượng điện này được dùng để vận hành mạng lưới robot vận chuyển thông minh, xe tải điện và hệ thống cẩu.

Bộ Thương mại Trung Quốc xúc tiến thiết lập các “hành lang xanh” kết nối quốc tế, chẳng hạn tuyến kết nối cảng Thanh Đảo với cảng Hamburg ở Đức. Họ còn xây dựng hệ thống chứng nhận nhiên liệu xanh quốc gia (methanol xanh, amoniac xanh, dầu diesel sinh học) nhằm tiến tới công nhận tiêu chuẩn xanh tương đương châu Âu.

Chuyển đổi phương thức kho vận tổng thể cũng được thực hiện. Ví dụ cảng Thiên Tân vận chuyển hơn 70% quặng sắt và hàng hóa bằng đường sắt chạy điện thay xe tải, giúp cắt giảm phát thải gián tiếp.

Về vận chuyển nội cảng, hệ thống giao thông thông minh theo chiều ngang (như hệ thống do Huawei phát triển cho bến container khu C thuộc cảng Thiên Tân) đóng vai trò “bộ não” điều phối.

AI tính toán trạng thái pin và lịch trình của hàng chục robot vận chuyển tự hành (ART/IGV) để đưa ra thời điểm sạc lí tưởng nhất. Xe chỉ sạc khi hệ thống thừa điện mặt trời/điện gió hoặc trong khoảng nghỉ ngắn giữa các ca, tránh gây quá tải lưới điện nội bộ.

Trí tuệ nhân tạo kết hợp dữ liệu vệ tinh Bắc Đẩu định tuyến đường đi ngắn nhất, không xung đột cho đội xe tự hành L4. Việc loại bỏ tình trạng tắc nghẽn và thời gian chờ giúp giảm tiêu hao năng lượng trên mỗi container tới 20%.

Mạng 5G truyền tải dữ liệu hình ảnh HD toàn cảnh từ các cần cẩu về trung tâm điều hành. Nhờ đó đội ngũ kỹ sư có thể ngồi trong văn phòng giám sát - điều khiển nhiều thiết bị cùng lúc một cách an toàn.

Bài học cho Việt Nam

Từ chiến lược phát triển cảng trung hòa carbon của Nhật và Trung Quốc, Việt Nam có thể rút ra 4 bài học thực tiễn lớn để áp dụng cho hệ thống cảng biển của mình.

Ban hành khung pháp lí rõ ràng như Nhật giúp doanh nghiệp có thể xây dựng lộ trình đầu tư cụ thể. Cơ quan chức năng cần sớm ban hành bộ tiêu chuẩn với từng cấp độ cụ thể thay vì chỉ dừng lại ở các tiêu chí khuyến khích “cảng xanh” định tính như hiện nay.

Tự chủ năng lượng như Trung Quốc cũng quan trọng không kém. Ta cần sớm tháo gỡ cơ chế pháp lí để doanh nghiệp cảng biển triển khai điện mặt trời áp mái trên hệ thống kho bãi rộng lớn, kết hợp nghiên cứu xây dựng trang trại điện gió gần bờ tại cụm cảng có tài nguyên gió tốt như miền Trung và Nam Bộ cấp điện cho cẩu giàn cùng xe nâng điện.

Từ Nhật và Trung Quốc có thể thấy cảng biển không chỉ là nơi bốc xếp hàng hóa, mà phải trở thành trung tâm cung ứng năng lượng sạch cho chuỗi cung ứng toàn cầu. Như vậy khi quy hoạch cảng mới cần dành sẵn quỹ đất và không gian hạ tầng cho trạm tiếp nhiên liệu xanh (methanol, amoniac) cùng hệ thống cấp điện bờ. Nếu không tàu hàng thế hệ mới của các liên minh hàng hải lớn sẽ bỏ qua cảng Việt Nam, chọn cảng chuyển tiếp đáp ứng chuẩn ESG.

Cuối cùng phải số hóa toàn diện bằng AI và 5G nhằm triệt tiêu thời gian chờ đợi của phương tiện vận tải đường bộ, điều phối xe vào cảng nhận hàng một cách chính xác qua đó giảm phát thải trực tiếp (xe không cần nổ máy chờ hàng giờ bên ngoài).

Cẩm Bình