Từ tinh bột mì đến chăn nuôi: Bài toán nâng chuẩn hàng xuất khẩu
Từ tinh bột mì, thủ công mỹ nghệ đến chăn nuôi, các ý kiến tại Hội nghị kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa xuất nhập khẩu, thương mại điện tử tỉnh Tây Ninh lần thứ IV năm 2026 cho thấy yêu cầu nâng chuẩn đang trở thành điểm chung của doanh nghiệp.
Tại Hội nghị kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa xuất nhập khẩu, thương mại điện tử tỉnh Tây Ninh lần thứ IV năm 2026, các phát biểu của đại diện ba lĩnh vực sản xuất có một điểm chung: Dư địa thị trường vẫn còn, nhưng cạnh tranh bằng sản lượng hoặc giá thấp không còn là hướng đi bền vững. Muốn mở rộng xuất khẩu, doanh nghiệp phải kiểm soát được cả chuỗi, từ nguồn nguyên liệu, sản xuất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến môi trường và khả năng đáp ứng ổn định các đơn hàng.
Không chỉ mở rộng đầu ra, các doanh nghiệp tại Tây Ninh đang đặt trọng tâm vào một bài toán khó hơn: làm sao chuyển lợi thế nguyên liệu và năng lực sản xuất thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và đứng vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Không thể mãi bán nguyên liệu và cạnh tranh bằng giá
Với ngành sắn, ông Lê Hữu Hùng, Phó chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội sản xuất tinh bột mì Tây Ninh, cho rằng Việt Nam đã có vị trí đáng kể trên thị trường quốc tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 2 triệu tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, đạt kim ngạch trên 700 triệu USD. Trung Quốc hiện chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam.
Sự phụ thuộc lớn vào một thị trường vừa mang lại đầu ra, vừa tạo ra rủi ro. Theo ông Hùng, ngành sắn cần giữ thị trường Trung Quốc; nhưng đồng thời mở rộng sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Đông, châu Âu và những thị trường có nhu cầu đối với các sản phẩm được chế biến sâu.
Tây Ninh có lợi thế riêng trong bài toán này. Theo Hiệp hội sản xuất tinh bột mì Tây Ninh, tỉnh hiện có hơn 60 nhà máy chế biến, tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng chục nghìn lao động. Chuỗi nguyên liệu không dừng trong địa giới tỉnh mà đã kết nối với Campuchia thông qua hệ thống cửa khẩu.
Hiệp hội cho biết đang hướng đến nguồn cung khoảng 8 triệu tấn củ mì tươi mỗi năm cho các nhà máy tại Tây Ninh. Trong giai đoạn 2025-2030, Hiệp hội đã ký bản ghi nhớ thu mua 45 triệu tấn, giá trị ước tính hơn 5 tỉ USD.
Ông Lê Hữu Hùng nhìn nhận một phần đáng kể sản phẩm hiện vẫn là tinh bột thông thường, giá trị gia tăng chưa cao. Do đó, ngành cần dịch chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang chất lượng; từ tinh bột thông thường sang chế biến sâu; từ sản xuất truyền thống sang kinh tế tuần hoàn và từ tập trung vào một thị trường sang đa dạng hóa đầu ra.
Thay vì chỉ sản xuất tinh bột thông thường, doanh nghiệp có thể phát triển tinh bột biến tính và sản phẩm phục vụ thực phẩm, dược phẩm, giấy, vật liệu sinh học hay hạt nhựa sinh học. Bã mì, vỏ, nước thải hữu cơ và khí sinh học cũng có thể được tái sử dụng để tạo thức ăn chăn nuôi, phân bón hữu cơ hoặc năng lượng.
Như vậy, bài toán của ngành sắn Tây Ninh không còn chỉ là bảo đảm đủ nguyên liệu cho nhà máy. Giá trị kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng kéo dài chuỗi chế biến và nâng giá trị trên cùng một đơn vị nguyên liệu.
Câu chuyện tương tự cũng xuất hiện ở ngành thủ công mỹ nghệ.
Ông Võ Thanh Tú, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hòa Thành Long An, cho rằng lợi thế của sản phẩm thủ công mỹ nghệ đến từ nguồn nguyên liệu tự nhiên như lục bình, mây, tre, đay, cói, bàng, buông hay rơm. Trong bối cảnh người tiêu dùng quốc tế ngày càng quan tâm tới sản phẩm bền vững, nguồn gốc tự nhiên, đây là cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy nhiên, nguyên liệu và tay nghề không còn đủ để quyết định sức cạnh tranh. Theo ông Tú, giá trị của sản phẩm trong giai đoạn mới phụ thuộc vào thiết kế, thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, khả năng sản xuất quy mô và năng lực đáp ứng thị trường quốc tế.
Ông cho rằng doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy gia công sang xây dựng thương hiệu, từ bán một sản phẩm sang bán cả câu chuyện, bản sắc và giá trị bền vững; đồng thời coi đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là một phần của năng lực cạnh tranh.
Ở góc độ kinh tế, đây cũng là bước chuyển từ khai thác lợi thế lao động và nguyên liệu sang cạnh tranh bằng giá trị vô hình. Thiết kế, thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường quyết định doanh nghiệp giữ lại được bao nhiêu giá trị trong chuỗi, thay vì chỉ nhận phần giá trị của khâu gia công.
Từ sản phẩm tốt đến hệ thống sản xuất đạt chuẩn
Nếu ngành tinh bột mì và thủ công mỹ nghệ cùng đặt vấn đề nâng giá trị sản phẩm, lĩnh vực chăn nuôi cho thấy một yêu cầu khác: muốn vào thị trường tiêu chuẩn cao, một sản phẩm tốt là chưa đủ.
Ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hùng Nhơn, cho rằng thị trường quốc tế cần một hệ thống sản xuất ổn định, minh bạch và có khả năng chứng minh chất lượng trong toàn bộ chuỗi.
Theo ông, với những thị trường yêu cầu cao, từ Halal, châu Âu đến Nhật Bản, doanh nghiệp phải chuẩn hóa từ con giống, thức ăn chăn nuôi, công nghệ trang trại, an toàn sinh học, sức khỏe vật nuôi, chế biến đến truy xuất nguồn gốc.
Trong mô hình Hùng Nhơn đang triển khai, doanh nghiệp tập trung vận hành trang trại quy mô lớn, trong khi các đối tác quốc tế tham gia từng mắt xích chuyên môn như thức ăn chăn nuôi, con giống, công nghệ chuồng trại và giải pháp sức khỏe vật nuôi.
Theo ông Vũ Mạnh Hùng, kinh nghiệm từ quá trình hợp tác này cho thấy doanh nghiệp không nhất thiết tự thực hiện tất cả các khâu, nhưng từng mắt xích phải đủ mạnh và được kết nối bằng một tiêu chuẩn chung.

Yêu cầu thị trường cũng đang mở rộng từ chất lượng sản phẩm sang môi trường sản xuất. Ngày 23/6/2026, Hùng Nhơn và De Heus ký chương trình hợp tác chuyển đổi xanh hướng tới Net Zero 2050. Định hướng đặt ra gồm tăng sử dụng năng lượng sạch, tái sử dụng nước thải, chất thải và phụ phẩm chăn nuôi, kiểm kê khí nhà kính, tiến tới các tiêu chuẩn quốc tế về năng lượng và môi trường.
Tại Tây Ninh, Hùng Nhơn xác định đây là một địa bàn trọng điểm trong chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững giai đoạn 2026-2036 với 13 dự án, tổng vốn đầu tư khoảng 18.300 tỷ đồng, tương đương khoảng 700 triệu USD.
Đến năm 2036, toàn chuỗi hướng tới quy mô 200 triệu con gà giống, 3 triệu con gà đẻ, 1 triệu con gà hậu bị, 25 triệu con gà thịt phục vụ xuất khẩu và 10.000 con heo giống cụ kỵ; doanh thu kỳ vọng khoảng 2 tỷ USD mỗi năm.
Điểm đáng chú ý không chỉ là quy mô đầu tư, mà là cách doanh nghiệp tổ chức toàn bộ chuỗi sản xuất. Theo ông Vũ Mạnh Hùng, muốn cạnh tranh ở các thị trường tiêu chuẩn cao, doanh nghiệp phải kiểm soát chặt từ đầu vào đến đầu ra, bảo đảm chất lượng ổn định và khả năng truy xuất trong toàn bộ quá trình sản xuất.
Từ ba lĩnh vực có đặc điểm rất khác nhau, nhưng phát biểu của các doanh nghiệp cho thấy cùng một hướng chuyển dịch. Tinh bột mì cần đi từ sản phẩm thông thường sang chế biến sâu; thủ công mỹ nghệ phải vượt khỏi tư duy gia công để tăng giá trị từ thiết kế và thương hiệu; chăn nuôi phải chuyển từ sản xuất từng khâu sang quản trị toàn bộ chuỗi theo tiêu chuẩn quốc tế.
Với Tây Ninh, lợi thế về nguyên liệu, sản xuất và kết nối thị trường đã hiện hữu ở nhiều ngành. Bước tiếp theo khó hơn là biến lợi thế đó thành giá trị gia tăng cao hơn, giảm phụ thuộc vào cạnh tranh bằng giá và đưa doanh nghiệp vào những mắt xích có giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng quốc tế.