Cuộc đời nhà khoa học

GS.VS Tạ Quang Bửu Trí tuệ bách khoa và cuộc đời cống hiến thầm lặng

Nam Phong 07/09/2026 08:41

Lịch sử thế kỉ XX của dân tộc không chỉ viết nên bằng máu xương trên chiến trường, mà còn được hun đúc từ ánh sáng trí thức và sự hy sinh thầm lặng của những bậc hiền tài. Trong dòng chảy ấy, GS.VS Tạ Quang Bửu hiện lên như một biểu tượng kì vĩ – "bộ óc bách khoa" hiếm có của đất nước.

GS.VS tạ quang bửu
GS.VS tạ quang bửu

Từ một trí thức thông kim bác cổ, thấu tỏ Đông - Tây, Tạ Quang Bửu đã không chọn tháp ngà hàn lâm an nhàn. Tiếng gọi non sông trong giờ phút ngàn cân treo sợi tóc đã đưa ông bước ra lửa đạn, gánh vác trọng trách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, hoạch định chiến lược bảo vệ nền độc lập. Khi hòa bình, ông lại trở thành "kiến trúc sư trưởng" đặt nền móng cho hệ thống đại học kỹ thuật và đưa thế hệ trẻ ra thế giới tiếp thu tinh hoa.

Đằng sau những trách nhiệm lớn lao ấy là một cuộc đời đạm bạc và liêm khiết tuyệt đối, những trăn trở thầm lặng trước vận mệnh quốc gia.

Loạt bài 4 kì "GS.VS Tạ Quang Bửu: Trí tuệ bách khoa và cuộc đời cống hiến thầm lặng" hy vọng phác họa được chân dung một nhân cách lớn đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi.

Kì 1: Giáo sư "tam đa" và trí tuệ siêu việt

Từ cậu học trò xứ Nghệ sớm thấu tỏ Đông - Tây kim cổ cho đến bậc đại trí thức thông thạo nhiều ngoại ngữ, giỏi toán, am hiểu triết học và quân sự. Hành trình vươn lên của một bộ óc bách khoa kỳ vĩ bắt đầu từ khát vọng tự học đến cùng.

Cậu thiếu niên xứ Nghệ và kí ức về kho tàng sách mở đầu kỉ nguyên tự học

Miền đất Nghệ An từ bao đời nay vẫn nổi tiếng là vùng địa linh nhân kiệt, nơi "chảo lửa túi mưa" đã tôi luyện nên những con người có ý chí sắt đá, gan góc và hiếu học. Chính trên mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng ấy, vào ngày 20/7/1910, Tạ Quang Bửu cất tiếng khóc chào đời tại xã Nam Thượng, huyện Nam Đàn.

Tạ Quang Bửu khi nhỏ
Thuở nhỏ, cậu học trò Tạ Quang Bửu nổi tiếng học giỏi ở Tam Kỳ và Quốc học Huế. Ảnh: vietnamnet.vn

Sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống học thức, cậu bé Tạ Quang Bửu sớm được tiếp xúc với chữ nghĩa từ thuở lọt lòng. Thế nhưng, điều làm nên sự khác biệt ở Tạ Quang Bửu so với các đồng trang lứa thời bấy giờ không chỉ nằm ở hoàn cảnh gia đình, mà chính là một tư duy phản biện sắc sảo cùng khả năng tiếp thu tri thức có chiều sâu. Khi nền giáo dục phong kiến đang dần cáo chung và nền giáo dục thực dân Pháp bắt đầu cắm rễ với những hệ lụy phức tạp, Tạ Quang Bửu không chọn cách bài xích hay học vẹt. Ngay từ khi còn là một thiếu niên ngồi trên ghế nhà trường tiểu học rồi trung học tại Vinh và Huế, cậu đã sớm nhận ra ranh giới mong manh giữa cái học vẹt để mưu sinh và cái học để khai phóng tâm trí.

Những người từng sống cùng thời hoặc có dịp tiếp xúc với Tạ Quang Bửu thời niên thiếu đều kinh ngạc trước trí nhớ phi thường của ông. Cậu có thể đọc qua một lượt các kinh điển Nho học, Hán học rồi nhớ như in, đồng thời lại ngấu nghiến các tác phẩm văn học, khoa học bằng tiếng Pháp với một sự thấu hiểu tường tận. Trong kí ức của gia đình và bạn bè đồng trang lứa, Tạ Quang Bửu hiếm khi chịu ngồi yên nếu trong tay không có một cuốn sách. Sách đối với ông không chỉ là phương tiện giải trí hay công cụ để thi cử đỗ đạt, mà là một thế giới mênh mông cần được khám phá đến tận cùng.

Tạ Quang Bửu thực sự là một bậc trí thức thông kim bác cổ, từ văn hóa truyền thống phương Đông đến khoa học hiện đại phương Tây, ông đều thấu tỏ bằng một phương pháp tự học uyên bác và hiếm có.

GS.VS. Hồ Tường, nguyên Viện trưởng Viện Toán học

Chính giai đoạn này đã định hình nên một phong cách học tập đặc trưng của Tạ Quang Bửu sau này: tự học và tự nghiên cứu. Ông không thỏa mãn với những gì thầy cô truyền giảng trên lớp. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt với ngôn ngữ và tư duy logic, ông tự mày mò học hỏi các ngoại ngữ khó. Sự chuẩn bị âm thầm nhưng vô cùng căn cơ ấy đã tạo ra một bệ phóng vững chắc để cậu học trò xứ Nghệ bước ra biển lớn tri thức của nhân loại, nơi mà những giới hạn về không gian và chế độ thực dân không thể nào kìm hãm nổi.

Khi toán học hội ngộ triết học và khoa học quân sự

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời học thuật của Tạ Quang Bửu diễn ra khi ông có cơ hội lên đường sang châu Âu du học. Giữa những năm 1930, khi phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam đang tìm đường cứu nước qua nhiều ngả đường khác nhau – người chọn con đường bạo động cách mạng, người chọn dấn thân vào chính trường, thì Tạ Quang Bửu lại chọn một lối đi riêng nhưng vô cùng hiểm nghèo và sâu sắc: lối đi của đỉnh cao khoa học cơ bản.

gstaqbuu38-1780x2240.jpg
Tạ Quang Bửu Huynh sau khi dự trại huấn luyện Hướng đạo sinh ở Anh năm 1938. (Ảnh tư liệu)

Ông đặt chân lên nước Pháp, rồi sang Anh, kinh qua những ngôi trường đại học danh giá bậc nhất thế giới thời bấy giờ như Sorbonne (Paris) và Đại học Oxford. Tại những thánh đường tri thức này, nơi hội tụ của những bộ óc xuất chúng nhất hành tinh, Tạ Quang Bửu không hề bị ngợp. Trái lại, ông nhanh chóng khẳng định tài năng thiên bổng của mình.

Nếu như đa số các sinh viên cùng thời thường khu biệt chuyên ngành để dễ bề tốt nghiệp và tìm kiếm một vị trí an toàn trong hệ thống công chức thuộc địa, thì Tạ Quang Bửu lại ôm đồm một khối lượng tri thức khổng lồ có vẻ như "không liên quan" đến nhau. Ông nghiên cứu sâu về toán học lí thuyết, vật lí lí thuyết, nhưng đồng thời lại say mê triết học, logic học hình thức và cả những vấn đề chiến lược quân sự. Đối với ông, các môn khoa học không đứng độc lập mà chúng là những mảnh ghép của một bức tranh vĩ đại về vũ trụ và tư duy con người.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Tạ Quang Bửu
Ảnh tư liệu

Anh Bửu không chỉ giỏi toán học hay vật lý, mà ở anh hội tụ một tầm nhìn bách khoa. Anh am tường triết học, nắm vững các vấn đề chiến lược và được anh em kính trọng gọi là nhà trí thức 'Tam đa'."

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Toán học cho ông sự rạch ròi, chính xác đến từng con số, khả năng tư duy hệ thống và cách giải quyết những bài toán phức tạp bằng mô hình logic.

Triết học cung cấp cho ông lăng kính nhân sinh quan sâu sắc, giúp ông nhìn thấu bản chất của các phong trào xã hội, vận mệnh các dân tộc và mối quan hệ biện chứng giữa con người với thời đại.

Khoa học quân sự và chiến lược lại rèn giũa cho ông nhãn quan sắc bén về sự sinh tồn, cách tính toán cục diện trong những tình huống ngặt nghèo nhất.

Năm 1934, Tạ Quang Bửu (đứng giữa) về nước, ở Huế và dạy Trường Thiên Hựu. Ảnh: Báo Vietnamnet
Năm 1934, Tạ Quang Bửu (đứng giữa) về nước, ở Huế và dạy Toán và Tiếng Anh tại Trường Thiên Hựu. Ảnh: Vietnamnet

Sự uyên bác đa chiều ấy chính là gốc rễ để sau này, đồng nghiệp và học trò kính trọng tôn vinh ông với danh xưng "Tam đa" – đa văn, đa võ, đa tài. Ông không phải là một mọt sách hàn lâm chỉ biết cúi đầu trên trang giấy trong các phòng thí nghiệm đóng kín. Tạ Quang Bửu thấu tỏ tinh hoa phương Tây từ khoa học tự nhiên đến tư tưởng chính trị, nhưng vẫn giữ trọn vẹn cốt cách, tâm hồn của một người con đất Việt đang ngày đêm quằn quại dưới ách nô lệ.

Bí mật đằng sau những ngôn ngữ không biên giới

Một trong những huyền thoại lớn nhất về Tạ Quang Bửu được lưu truyền trong giới trí thức Việt Nam thế kỉ XX chính là khả năng ngoại ngữ siêu việt. Trong thời đại mà việc thông thạo một ngoại ngữ (tiếng Pháp) đã là niềm tự hào lớn của tầng lớp trí thức Tây học, thì Tạ Quang Bửu lại làm chủ một cách hoàn hảo hàng loạt ngôn ngữ khó khăn bậc nhất thế giới.

Theo các tài liệu lưu trữ và hồi ức của nhiều nhà khoa học từng làm việc cùng ông, Tạ Quang Bửu sử dụng thành thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và có thể đọc hiểu sâu sắc các tài liệu bằng chữ Hán cổ, tiếng La-tinh, tiếng Hy Lạp cổ. Điều kì diệu không nằm ở số lượng ngôn ngữ mà ông liệt kê trong sơ yếu lí lịch, mà nằm ở chất lượng của sự thấu hiểu. Ông không chỉ nghe nói giao tiếp thông thường, mà có thể đọc nguyên bản các trước tác triết học hiểm hóc của Kant, Hegel, các công trình toán học đỉnh cao của các bậc thầy châu Âu, hay các tài liệu quân sự tối mật bằng nhiều thứ tiếng khác nhau mà không cần từ điển.

Ông có thể đọc các công trình toán học, triết học và tài liệu khoa học bằng rất nhiều thứ tiếng khác nhau một cách trôi chảy như tiếng mẹ đẻ, một khả năng khiến ngay cả các giáo sư người Pháp và người Anh lúc bấy giờ cũng phải kinh ngạc.

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hạo

Khả năng ngoại ngữ phi thường này không phải là một thứ "phép thuật" thiên bửu có sẵn, mà là kết quả của một quá trình tự học khổ luyện đến mức ám ảnh. Trong những năm tháng ở châu Âu, khi điều kiện kinh tế eo hẹp, sống giữa lòng xã hội phương Tây đầy biến động trước thềm Thế chiến thứ hai, Tạ Quang Bửu đã tận dụng từng phút giây để nạp năng lượng trí tuệ. Đối với ông, mỗi một ngôn ngữ mới mở ra một chân trời tư tưởng mới, một nền văn minh mới. Nhờ thông thạo nhiều ngoại ngữ, ông không bao giờ bị phụ thuộc vào các bản dịch - vốn thường rơi rớt hoặc bóp méo ý tưởng gốc của tác giả. Ông đứng ngang hàng với các học giả quốc tế khi bàn luận về những vấn đề hóc búa nhất của khoa học và triết học nhân loại.

Chính nhờ vốn tri thức xuyên biên giới này, khi trở về Tổ quốc, Tạ Quang Bửu đã có trong tay một thứ vũ khí sắc bén vô hình: khả năng tiếp thu, chắt lọc và chuyển hóa những thành tựu khoa học tiên tiến nhất của nhân loại để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ông không đi sau thời đại, mà đứng ở đỉnh cao của thời đại để nhìn về tương lai dân tộc.

Từ tháp ngà hàn lâm đến tiếng gọi của non sông

Không chọn cách ở lại châu Âu hay thu mình trong tháp ngà nghiên cứu lí thuyết, năm 1934, Tạ Quang Bửu trở về nước. Ông sinh sống tại Huế và nhận lời dạy học tại Trường Thiên Hựu (Providence). Bên cạnh công việc giảng dạy, ông còn làm việc tại Hãng điện SIPEA và tích cực tham gia phong trào thanh niên qua vai trò Huynh trưởng Hướng đạo sinh Trung kì. Đặc biệt, trong giai đoạn này, ông đã cùng các trí thức cùng chí hướng sáng lập nhóm "Trách nhiệm" – một tổ chức trí thức với tôn chỉ sẵn sàng phục vụ nhân dân và đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến 1947 (GS Tạ Quang Bửu ở hàng đứng, thứ 2 từ phải sang). Ảnh tư liệu.​
Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến 1947 (GS Tạ Quang Bửu ở hàng đứng, thứ 2 từ phải sang). Ảnh tư liệu.​

Tháng 8 năm 1945, từ Huế, ông cùng luật sư Phan Anh ra Hà Nội để tham gia vào chính quyền cách mạng non trẻ. Với năng lực ngoại ngữ và tư duy uyên bác, ông được giao giữ các trọng trách như Thư ký tiếng Anh, Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao, đồng thời tham gia Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị Sơ bộ (1946) và Hội nghị Fontainebleau (đoàn đàm phán chính thức tại Pháp).

Khi các nỗ lực hòa hoãn không thành công và cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông theo Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc. Từ một nhà giáo, nhà khoa học thuần túy, ông chính thức bước vào hàng ngũ lãnh đạo kháng chiến, bắt đầu hành trình cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, quốc phòng, khoa học và phát triển giáo dục nước nhà.

Còn tiếp...

Nam Phong