Cuộc đời nhà khoa học

Giáo sư Tạ Quang Bửu:Kỳ 2 - Góc khuất tâm tư của 'một ông Tây An Nam’ hào hoa, tài tử

Nam Phong 08/09/2026 06:15

Gánh vác chiếc ghế "nóng" Bộ trưởng Quốc phòng trong khói lửa chiến tranh, Giáo sư Tạ Quang Bửu còn là một "ông Tây An Nam" hào hoa, nặng lòng che chở nhân tài.

Giáo sư Tạ Quang Bửu Góc khuất tâm tư của 'một ông Tây An Nam hào hoa, tài tử
Ảnh tư liệu

Nói đến Giáo sư Tạ Quang Bửu, người ta thường nhớ tới những cột mốc lịch sử vĩ đại: Bộ trưởng Quốc phòng trong khói lửa kháng chiến, kiến trúc sư trưởng của hệ thống đại học kỹ thuật, hay một bộ óc bách khoa uyên bác. Thế nhưng, đằng sau tấm áo bộ trưởng nghiêm nghị hay chiếc bảng đen phấn trắng ấy lại là một con người rất đỗi đời thường, một "ông Tây An Nam" mang đậm phong vị hào hoa xứ Nghệ, nặng lòng với những nghĩ suy thế sự và sâu sắc trong từng góc khuất tâm hồn.

Nền tảng học vấn uyên bác và phong thái của một "ông Tây An Nam" hào hoa

Sinh ra trong một gia đình phong kiến có truyền thống Nho học tại xã Nam Hoành (nay là xã Khánh Sơn), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Tạ Quang Bửu từ nhỏ đã sớm bộc lộ tư chất thông minh xuất chúng. Sau khi đỗ Thành chung rồi ra học Trường Bưởi (Hà Nội) - cái nôi đào tạo nên bao thế hệ trí thức ưu tú của đất nước - vào năm 1929, ông đã tạo nên một tiếng vang lớn khi thi đỗ đầu cả hai văn bằng: Tú tài bản xứ và Tú tài Tây ban Toán. Với thành tích rực rỡ ấy, ông nhận được học bổng sang du học tại các trường đại học danh tiếng hàng đầu ở Pháp (Sorbonne) và Anh (Oxford).

tạ quang bửu du học
5 năm du học, GS. Tạ Quang Bửu (bìa trái) tận dụng để thu hoạch được nhiều kiến thức và theo học nhiều giáo sư có tiếng, không vì bằng cấp.

Bước chân vào trời Âu những năm đầu thế kỉ XX, giữa một nền văn minh phương Tây đang chuyển mình mạnh mẽ, Tạ Quang Bửu không chỉ say sưa hấp thụ tinh hoa khoa học cơ bản, toán học, triết học mà còn thấm đẫm phong cách sống phóng khoáng, hiện đại của trí thức phương Tây. Thế nhưng, dù sống giữa lòng Paris hay London hoa lệ, thẳm sâu trong tâm hồn ông vẫn là một cội nguồn văn hóa Việt Nam sâu sắc, cùng một bản lĩnh giữ mình kiêu hãnh. Người ta gọi ông là một "ông Tây An Nam" không phải bởi sự lai căng, mà bởi sự giao thoa kì lạ giữa phông văn hóa Âu châu lịch lãm với cốt cách của một nho sĩ xứ Nghệ: cương trực, trọng danh dự và bao dung.

Không giống với hình dung thông thường về những nhà khoa học mọt sách, khép kín, Tạ Quang Bửu là hiện thân hiếm có của một con người phát triển toàn diện cả trí lực lẫn thể lực. Ngay từ thời trẻ, ông sở hữu một thể chất tráng kiện đến đáng nể. Ít ai biết rằng vị giáo sư sau này nổi danh với tư duy lô-gic sắc sảo từng là một vận động viên bơi lội cự phách. Ông từng trực tiếp tham gia những cuộc thi bơi đường dài khắc nghiệt, tiêu biểu là thử thách bơi vượt eo biển Manche - eo biển lạnh giá nối liền nước Anh và nước Pháp, đòi hỏi một ý chí thép và sức bền phi thường.

Năm 1934, Tạ Quang Bửu (đứng giữa) về nước, ở Huế và dạy Toán và Tiếng Anh tại Trường Thiên Hựu. Ảnh: Vietnamnet
Năm 1934, Tạ Quang Bửu (đứng giữa) về nước, ở Huế và dạy Toán và Tiếng Anh tại Trường Thiên Hựu. Ảnh: Vietnamnet

Trở về nước vào năm 1934, từ chối mọi lời mời ra làm quan vinh thân phì gia dưới chế độ cũ, ông chọn con đường đứng trên bục giảng trường tư Providence ở Huế để truyền chữ, khơi dậy lòng yêu nước. Ở Huế thời gian đó, bên cạnh giờ lên lớp toán và tiếng Anh, Tạ Quang Bửu còn là một Huynh trưởng nhiệt huyết của phong trào Hướng đạo sinh Trung Kì. Ông trực tiếp dạy học sinh các phương pháp luyện tập điền kinh khoa học, chơi giỏi bơi lội, điền kinh và đặc biệt là môn bóng bàn theo đúng lối đánh chuẩn mực của tay vợt huyền thoại người Hungary – Barma.

Chính nền tảng thể chất tráng kiện, tâm hồn nghệ sĩ yêu âm nhạc, hội họa và phong thái hào hoa, đĩnh đạc ấy đã nhào nặn nên một nhân cách lớn. Ông bước vào phong trào cách mạng không phải với vẻ mặt khô khan của một người làm chính trị, mà bằng trái tim dạt dào tình yêu nước và một cốt cách tài tử, nghĩa khí.

Đứng ở đầu sóng ngọn gió của thời cuộc

Tháng 8 năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Hưởng ứng tiếng gọi thiêng liêng của non sông, Tạ Quang Bửu cùng nhiều trí thức yêu nước khác gác lại bút nghiên, dấn thân trọn vẹn vào dòng chảy cách mạng. Nhờ uy tín lớn và năng lực tổ chức xuất sắc, ông được tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp tham gia phái đoàn đàm phán tại Hội nghị Sơ bộ và Hội nghị Fontainebleau năm 1946. Nền tảng ngôn ngữ lưu loát, tác phong ngoại giao lịch thiệp cùng tư duy nhạy bén của ông đã gây ấn tượng sâu sắc ngay cả với những chính khách sừng sỏ bên kia chiến tuyến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến 1947 (GS Tạ Quang Bửu ở hàng đứng, thứ 2 từ phải sang). Ảnh tư liệu.​
Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến 1947 (GS. Tạ Quang Bửu ở hàng đứng, thứ 2 từ phải sang). Ảnh tư liệu.​

Thế nhưng, thử thách lớn nhất và khắc nghiệt nhất trong cuộc đời hoạt động nhà nước của ông đến vào cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Giữa lúc đất nước "ngàn cân treo sợi tóc", tài chính kiệt quệ, vũ khí thô sơ, quân đội non trẻ phải đối đầu với cỗ máy chiến tranh nhà nghề của thực dân Pháp, Chính phủ tiến hành kiện toàn bộ máy quốc phòng. Tháng 8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định trao chiếc ghế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho Tạ Quang Bửu (khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp ra chiến trường làm Tổng Tư lệnh).

Đối với một trí thức vốn quen với phòng thí nghiệm, bảng đen phấn trắng, việc tiếp quản chiếc ghế đứng đầu ngành quân sự trong lửa đạn là một bước ngoặt đầy cam go. Thế nhưng, chính tại đây, bản lĩnh của một nhà khoa học lớn đã tỏa sáng rực rỡ. Ông đem vào quân đội sự rạch ròi, khoa học, tư duy hệ thống và trên hết là một kỉ luật thép kết hợp với tình đồng chí keo sơn.

gia đình giáo sư tạ quang bửu
Gia đình Giáo sư Tạ Quang Bửu ở Việt Bắc. Ảnh tư liệu

Lên chiến khu Việt Bắc gian khổ, Tạ Quang Bửu cùng Bộ Tổng Tư lệnh ngày đêm trăn trở giải quyết những bài toán sinh tử của chiến trường: từ việc tổ chức hậu cần thiếu thốn, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc xuyên rừng núi, kiện toàn tổ chức quân đội ba loại quân, cho đến việc chỉ đạo xây dựng những xưởng cơ khí quốc phòng đầu tiên chế tạo vũ khí tự lực cánh sinh. Trong những chiến dịch lớn như Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, khi giặc Pháp mở các cuộc càn quét quy mô lớn nhằm bóp nghẹt cơ quan đầu não kháng chiến, Tạ Quang Bửu luôn giữ được cái đầu lạnh tuyệt đối. Ông bình tĩnh phân tích cục diện chiến trường bằng tư duy logic sắc sảo, tham mưu đắc lực cho Bác Hồ và Bộ Tổng Tư lệnh những quyết sách giữ vững thế chủ động.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đồng sự gắn bó mật thiết với ông trong những năm tháng hào hùng và gian khổ ấy, từng đúc kết đầy trân trọng:

Anh Tạ Quang Bửu là một nhà khoa học lớn nhưng khi ra trận tuyến, anh mang theo một tinh thần kỷ luật thép, tư duy hệ thống sắc sảo và một tấm lòng vì nước vô điều kiện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đỉnh cao trong hoạt động quân sự và ngoại giao của ông trong giai đoạn này chính là vai trò cốt cán tại Hội nghị Genève năm 1954. Với tư cách là Tổng tham mưu phó Bộ Tổng Tư lệnh kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tạ Quang Bửu trực tiếp tham gia phái đoàn đàm phán quân sự. Đối mặt với những sĩ quan tham mưu nhà nghề của quân đội Pháp, ông đã sử dụng sự uyên bác về luật pháp quốc tế, vốn ngoại ngữ xuất sắc và sự thấu hiểu sâu sắc chiến trường để đấu trí từng câu chữ, bảo vệ thành công ranh giới quân sự tạm thời, quy định khu vực tập kết chuyển quân, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho lực lượng kháng chiến ở cả hai miền Nam - Bắc.

Giáo sư Tạ Quang Bửu cùng các thành viên đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham dự Hội nghị Geneva năm 1954. Ảnh tư liệu

Sự kiên định nhưng vô cùng linh hoạt của ông đã góp phần đặt dấu chấm hết cho chín năm kháng chiến trường kì bằng văn bản pháp lí quốc tế chính thức.

Những góc khuất tâm tư, lòng nhân ái và bi kịch của thời cuộc

Dù khoác trên mình những chức vụ trọng yếu của quốc gia, Tạ Quang Bửu chưa bao giờ mất đi bản chất của một nhà giáo, một người anh lớn giàu lòng trắc ẩn. Phía sau vẻ ngoài đĩnh đạc, đôi khi có phần nghiêm nghị của một nhà quản lý là một trái tim đôn hậu, luôn thổn thức trước số phận con người, đặc biệt là những trí thức trẻ tuổi tài cao nhưng gặp thời buổi trắc trở.

Không biết đã có bao nhiêu trường hợp vì lý lịch, vì quá khứ, vì sức khoẻ, vì hoàn cảnh thiếu thốn mà không được đi học rồi được GS. Tạ Quang Bửu đích thân giải quyết để được đi học. Ông đã ‘xé rào’ để lý lịch và quá khứ không ngăn cản việc học tập của các tài năng. Ông đích thân can thiệp, thuyết phục, và đứng ra bảo lãnh, mạo hiểm cả chức vụ và số phận chính trị của mình để các tài năng có điều kiện phát triển.

- TS. Nguyễn Ngọc Chu

Trong bối cảnh xã hội đầy biến động của thời chiến và những năm đầu xây dựng hòa bình, không ít nhân tài bước vào đời với những vết gợn về lý lịch, thành phần gia đình hay những trắc trở nghiệt ngã của hoàn cảnh. Giữa lúc ấy, Tạ Quang Bửu đã dũng cảm vượt qua mọi rào cản hành chính cứng nhắc, dùng uy tín chính trị và cả sinh mệnh chính trị của mình để "xé rào" bảo bọc, che chở cho người tài.

Câu chuyện của Giáo sư, Viện sĩ Ngô Việt Trung (nguyên Viện trưởng Viện Toán học) là một minh chứng cảm động thấm đẫm tình người. Năm 1969, Ngô Việt Trung xuất sắc giành giải nhất toán toàn miền Bắc và đạt điểm tuyệt đối trong kì thi du học nước ngoài. Thế nhưng, giấc mơ khoa học tưởng chừng khép lại vĩnh viễn khi không một quốc gia xã hội chủ nghĩa nào đồng ý tiếp nhận một lưu học sinh bị liệt một chân phải đi nạng. Chính Giáo sư Tạ Quang Bửu trong một lần nắm bắt thông tin đã âm thầm can thiệp, trực tiếp đề nghị phái đoàn giáo dục Đông Đức nhận trường hợp đặc biệt này. Mãi tận nhiều năm sau, khi đã thành danh, Ngô Việt Trung mới nghẹn ngào biết được sự thật về bàn tay âm thầm nâng đỡ ấy của bác Bửu.

giao-su-phat-2-1609733610781.jpg
Giáo sư, TSKH. Trần Hữu Phát. Ảnh: Dân trí

Tương tự, Giáo sư, TSKH. Trần Hữu Phát - chuyên gia hàng đầu về năng lượng nguyên tử - cũng mang ơn sâu nặng khi được Tạ Quang Bửu trực tiếp phát hiện tài năng, giới thiệu với nhà vật lí lừng danh thế giới Vigier, rồi trình lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để cử sang Pháp nghiên cứu. Những lời căn dặn ân cần của ông đối với đàn em như “Khi viết bài cần rõ ràng, chặt chẽ, trung thực và khiêm tốn” đã trở thành kim chỉ nam cho cả một thế hệ nhà khoa học Việt Nam trưởng thành.

Tuy nhiên, cuộc đời không phải lúc nào cũng trọn vẹn, và đằng sau những chiến công là những nỗi niềm trăn trở thầm lặng không dễ gì giãi bày. Lịch sử từng ghi nhận những giọt nước mắt bất lực của người trí thức lớn trước sức nặng của định kiến thời cuộc. Chuyện kể về một học sinh tự học xuất sắc toán cao cấp nhưng có cha mẹ tập kết vào Nam từ năm 1954 – một hoàn cảnh nhạy cảm thời bấy giờ. Dù Tạ Quang Bửu và các cộng sự đã tận tụy tìm mọi cách cứu vớt, che chở, vấp phải những bức tường định kiến hành chính cứng nhắc lúc bấy giờ, hoàn cảnh ấy vẫn bị cuốn vào vòng xoáy nghiệt ngã. Những trăn trở ấy cho thấy gánh nặng của một người thầy lớn không chỉ là truyền thụ tri thức, mà còn là nỗi đau đáu làm sao để xã hội dung nạp và mở đường cho những tài năng khác biệt.

Ngọn lửa bách khoa nơi bục giảng và khoảng trống mênh mông để lại

Dù nắm giữ những cương vị điều hành vĩ mô từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Tạ Quang Bửu chưa bao giờ rời xa bục giảng. Đối với ông, việc được đứng trước sinh viên, truyền ngọn lửa đam mê toán học và khoa học là niềm hạnh phúc lớn lao nhất.

Những buổi xêmina khoa học do ông trực tiếp chủ trì luôn có sức hút kỳ lạ. GS. Phan Đình Diệu từng hồi tưởng lại với tất cả sự kính yêu về những buổi giảng bài mang đậm phong cách bác học của ông:

giáo sư tạ quang bửu
Vừa làm quản lý, GS. Tạ Quang Bửu vẫn say sưa nghiên cứu và giảng dạy. Ảnh tư liệu

"Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ những buổi giảng của anh, say sưa và sâu sắc, luôn hấp dẫn người nghe, hấp dẫn bởi cái say sưa nhiệt tình của người giảng là chính, dù người nghe chúng tôi nhiều khi chưa lĩnh hội được cái sâu sắc của bài giảng qua ngôn ngữ bác học của anh. Đối với tôi, dù chưa hiểu bao nhiêu, nhưng tác động quan trọng của các bài giảng đó là gợi sự tò mò và lòng ham tìm hiểu. Và rồi như sau này khi đã trải qua phần lớn cuộc đời mình, tôi nghiệm ra rằng cái hấp dẫn nhất đối với mình bao giờ cũng là cái chưa hiểu." - (GS. Phan Đình Diệu)

Sự quan tâm của Tạ Quang Bửu đối với lớp đàn em không dừng lại ở những công trình khoa học lớn lao hay các chiến lược vĩ mô của quốc gia, mà còn thấm đượm trong những chi tiết đời thường vô cùng bình dị. Đó là viên thuốc men khi học trò ốm đau trong những năm tháng thiếu thốn, là chiếc xe đạp cũ để anh em yên tâm đi lại làm việc qua những tháng ngày sơ tán. Sự chăm lo toàn diện, chân thành từ tấm lòng của một người anh lớn đã biến ông thành một tượng đài tinh thần không thể thay thế trong lòng giới trí thức Việt Nam thế kỷ XX.

Cuộc đời của Tạ Quang Bửu là sự dung hòa kì diệu giữa lí trí thép của một nhà quân sự, sự mẫn tuệ của một nhà khoa học bách khoa và trái tim nhân hậu, hào hoa của một người thầy. Để rồi khi ông vắng bóng, để lại phía sau một di sản đồ sộ, những người đồng sự như Giáo sư Hoàng Tụy chỉ có thể đúc kết lại bằng một câu nói đầy ám ảnh và xót xa:

Có những nhân cách và tài năng mà chỉ sau khi vắng bóng họ, người đời mới thấy hết khoảng trống mênh mông họ để lại.

Giáo sư Hoàng Tụy

Nam Phong