Khác biệt cadimi giữa sầu riêng miền Tây Nam bộ và Đắk Lắk, từ đâu?
Thổ nhưỡng, phân bón và kiểm nghiệm đang trở thành những điểm nghẽn với sầu riêng miền Tây Nam bộ.
Tuy nhiên, lợi thế mùa vụ không đồng nghĩa với việc các vùng trồng có điều kiện sản xuất giống nhau. Một vấn đề đang được ngành hàng quan tâm là nguy cơ nhiễm kim loại nặng cadimi trong sầu riêng. Theo thông tin của Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, tỉ lệ phát hiện cadimi ở sầu riêng miền Tây Nam bộ cao hơn khu vực Đông Nam bộ và tỉnh Đắk Lắk. Khác biệt này được đặt trong mối liên hệ với đặc tính đất, khả năng giữ và tích tụ kim loại nặng cũng như cách sử dụng phân bón.
Khác biệt từ nền đất

TS. Trần Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm Kiểm định và Khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật phía Nam, cho rằng: Miền Tây Nam bộ - Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có những vùng đất với tầng đất thịt dày. Khi phân bón chứa tạp chất kim loại nặng được sử dụng lâu dài, Cadimi có khả năng tích tụ trong đất thay vì bị rửa trôi. Khi nồng độ cadimi trong vùng rễ tăng, cây sầu riêng có thể hấp thụ kim loại này, làm phát sinh nguy cơ không đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Đây là điểm khác biệt khi đặt cạnh Đắk Lắk. Vùng trồng sầu riêng chủ lực của Tây Nguyên sở hữu đất đỏ bazan có nguồn gốc núi lửa, có khả năng thấm nước cao. Theo tài liệu được cung cấp, cadimi sau khi đi vào đất có xu hướng được rửa trôi và thấm xuống những tầng sâu hơn, không tập trung nhiều ở tầng rễ hoạt động. Vì vậy, nguy cơ tích tụ Cadimi trong sầu riêng Đắk Lắk được đánh giá thấp hơn.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng sầu riêng Đắk Lắk mặc nhiên an toàn tuyệt đối hoặc ĐBSCL đương nhiên nhiễm cadimi. Mức độ tồn dư còn phụ thuộc nguồn phân bón, lịch sử canh tác, đặc tính từng khu đất, lượng sử dụng và quản lí sản xuất. Kiểm nghiệm vẫn là cơ sở quyết định.

Ông Lê Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, cho biết: Một nguồn của cadimi trong đất và cây trồng có thể đến từ phân bón chất lượng kém. Trong đó, có nguồn phân nhập khẩu không được kiểm soát chặt chẽ. Khi sử dụng lặp lại trên đất có khả năng giữ kim loại nặng, lượng cadimi có thể tích tụ qua thời gian. Điều này đặt ra yêu cầu phải quản lí từ đầu vào, thay vì chỉ phát hiện vấn đề khi trái đã thu hoạch.
TS. Trần Thanh Tùng nhìn nhận vấn đề từ góc độ kiểm định, kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn nông sản. Theo ông, giải pháp đặc biệt quan trọng là kiểm soát cadimi từ đất, nước, phân bón và quy trình canh tác. Đồng thời, lấy mẫu định kì để nhận diện sớm những vùng có nguy cơ. Khi phát hiện nguy cơ, cần truy xuất nguyên nhân và điều chỉnh quy trình bón phân, thay vì chờ đến khâu kiểm nghiệm quả xuất khẩu.
Lợi thế nhưng cũng là điểm yếu của miền Tây Nam bộ
ĐBSCL có lợi thế về đất đai, nguồn nước, kinh nghiệm canh tác và khả năng tổ chức sản xuất nghịch vụ. Đây là vùng có thể đưa sầu riêng ra thị trường vào thời điểm nguồn cung từ một số vùng trồng khác giảm, qua đó tạo cơ hội nâng giá trị. Ông Lê Tấn Lợi cho rằng, nếu tổ chức tốt sầu riêng nghịch vụ, Việt Nam có thể giảm sự trùng lặp mùa thu hoạch với Thái Lan, Campuchia và Lào.
Nhưng chính đặc điểm đất có tầng đất thịt dày lại làm bài toán kim loại nặng trở nên phức tạp. Một chất đã tích tụ trong đất không thể xử lý nhanh bằng cách thay đổi một vài lần bón phân. Vì vậy, ĐBSCL cần chuyển từ tư duy xử lí sự cố sang quản lí đất theo vùng, theo mã số vùng trồng và theo lịch sử sử dụng vật tư nông nghiệp.

Giải pháp phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu
Theo PGS. TS. Lê Văn Vàng - Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ: Để khắc phục điểm yếu cadimi, trước hết cần lập bản đồ nguy cơ kim loại nặng đối với các vùng trồng sầu riêng ĐBSCL. Các vùng có nguy cơ cao cần được lấy mẫu đất, nước, lá và quả theo chu kỳ; kết quả được lưu trữ trong hệ thống truy xuất để doanh nghiệp biết rõ nguồn nguyên liệu. Cùng với đó, cơ quan quản lí cần kiểm soát chặt hàm lượng kim loại nặng trong phân bón trước khi sản phẩm lưu hành.
Nông dân cũng cần thay đổi tập quán sử dụng phân bón theo kinh nghiệm. Không nên chọn sản phẩm chỉ dựa vào giá hoặc quảng cáo về hàm lượng dinh dưỡng. Phân bón phải có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm soát chất lượng và phù hợp với kết quả phân tích đất. Các vùng có nguy cơ cadimi cao cần có khuyến cáo riêng về loại phân, liều lượng, thời điểm bón và cách quản lí đất.
Theo ông Lê Tấn Lợi, bên cạnh cadimi, hạ tầng kiểm nghiệm cũng là điểm nghẽn. Cả nước trước đây có khoảng 38 phòng kiểm nghiệm. Nhưng mùa cao điểm vẫn quá tải. Đồng Tháp, nơi có gần 600.000 tấn sầu riêng mỗi năm theo tài liệu, chỉ có một phòng kiểm nghiệm được công nhận. Sắp tới có thể số phòng kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu sẽ tăng lên gấp 2 lần, ĐBSCL đang chờ số phòng kiểm nghiệm sầu riêng của vùng tăng lên để giảm bớt điểm nghẽn sầu riêng xuất khẩu. Doanh nghiệp không phải chuyển mẫu đến Cần Thơ, TP. HCM, thậm chí Hà Nội, như hiện nay.

Cần tăng số phòng kiểm nghiệm tại các vùng nguyên liệu lớn, đồng thời xã hội hóa đầu tư và đẩy nhanh công nhận những phòng đáp ứng yêu cầu. Cùng với đó, Việt Nam cần thúc đẩy đàm phán kĩ thuật với Trung Quốc để có thêm phòng kiểm nghiệm được phía bạn công nhận.
Sầu riêng ĐBSCL không thiếu lợi thế. Vấn đề là phải biến lợi thế mùa vụ thành lợi thế chất lượng bền vững. Nếu kiểm soát được cadimi từ gốc, quản trị đất theo dữ liệu, sử dụng vật tư an toàn và xây dựng mạng lưới kiểm nghiệm đủ năng lực, miền Tây có thể giảm điểm yếu so với Đắk Lắk, đồng thời nâng độ tin cậy của sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế.