Hỏi - Đáp

TS. Trần Minh Hải: Để chuyển đổi nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững, Cà Mau cần xử lí vấn đề 'bẻ kèo' trong liên kết

Văn Kim Khanh 12/09/2026 09:25

Nông nghiệp Cà Mau tăng trưởng tích cực, sản lượng lúa tăng, nhưng để chuyển xanh, số hóa và liên kết chuỗi bền vững, cần xử lí vấn đề 'bẻ kèo'.

Xung quanh vấn đề hoàn thiện chính sách để giúp Cà Mau phát triển bền vững, phóng viên Một Thế Giới đã phỏng vấn TS. Trần Minh Hải, Phó hiệu trưởng Trường Chính sách Phát triển Nông thôn.

- Thưa TS. Trần Minh Hải, nhìn từ kết quả sản xuất những tháng đầu năm 2026, TS đánh giá thế nào về bước chuyển của nông nghiệp Cà Mau và những điểm nghẽn cần tháo gỡ để đi vào quỹ đạo xanh, hiện đại?

BA DINH CA MAU 9
TS. Trần Minh Hải, Phó hiệu trưởng Trường Chính sách Phát triển Nông thôn. Ảnh: Văn Kim Khanh

- TS. Trần Minh Hải: 8 tháng đầu năm 2026 cho thấy nông nghiệp Cà Mau có nền tảng tích cực để bước sang giai đoạn phát triển mới. Theo số liệu cập nhật, tổng sản lượng lúa tháng 8 ước đạt 80.000 tấn, lũy kế tám tháng đạt 1.272.905 tấn, bằng 68,1% kế hoạch và 100,4% so với cùng kì.

Riêng lúa Hè Thu 2026 đã xuống giống dứt điểm 93.522 ha, đạt 100,7% kế hoạch. Trong tháng 8, diện tích thu hoạch ước 13.310 ha, năng suất 5,9 tấn/ha, sản lượng 80.000 tấn. Lũy kế diện tích thu hoạch 18.910 ha, năng suất 5,8 tấn/ha, sản lượng 115.000 tấn. Giá mua bán lúa ổn định, dao động 6.000 - 7.000 đồng/kg tùy giống.

Lúa Thu Đông cũng bắt đầu xuống giống, trong tháng đạt 920 ha, lũy kế 1.470 ha, mới đạt 4,3% kế hoạch 34.051 ha. Những con số này cho thấy sản xuất lúa vẫn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp, đồng thời phản ánh dư địa để nâng chất lượng và giá trị thay vì chỉ mở rộng sản lượng.

Điểm nghẽn hiện nay trước hết nằm ở chính sách và năng lực tổ chức sản xuất. Các quy định về liên kết, hỗ trợ sản xuất, đất lúa và chương trình mục tiêu cần được tích hợp, đồng bộ hơn. Các ngành hàng đặc thù cũng cần định mức kinh tế, kĩ thuật rõ ràng.

BA DINH CM 8
Đồng lúa sản xuất xanh của HTX Ba Đình Cà Mau. Ảnh: B.Đ

- Theo TS, Cà Mau cần làm gì để biến những kết quả trên thành động lực chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, hiện đại, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường?

- TS. Trần Minh Hải: Cà Mau cần chuyển từ tư duy “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất theo nhu cầu thị trường”, đồng thời tổ chức lại không gian sản xuất dựa trên hệ sinh thái.

Vùng trung tâm cần ưu tiên lúa chất lượng cao, giảm vật tư đầu vào, tiết kiệm nước, giảm phát thải và gắn với chế biến sâu, thương hiệu gạo. Vùng ven biển có thể phát triển tôm sinh thái, tôm công nghệ cao, tôm - rừng, tôm - lúa và các mô hình tuần hoàn. Vùng U Minh cần khai thác lợi thế rừng, mật ong, cá đồng và sản phẩm đặc sản theo hướng thị trường ngách có giá trị cao.

8 tháng đầu năm, tỉnh có 420 hợp tác xã nông nghiệp, 1.273 tổ hợp tác và 305 sản phẩm OCOP. Đây là lực lượng để tổ chức lại sản xuất, nhưng cần nâng chất hợp tác xã để có năng lực kí hợp đồng, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đàm phán với doanh nghiệp. Cùng với đó, chuyển đổi xanh phải gắn với thích ứng biến đổi khí hậu. Cà Mau chịu tác động của nước biển dâng, sạt lở, hạn mặn và thời tiết cực đoan, nên sản xuất không thể tách khỏi bảo vệ rừng, nguồn nước và hệ sinh thái.

8 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 5,2%, tạo nền tảng chuyển đổi xanh, hiện đại.

Khoa học công nghệ phải đi vào từng công đoạn. Trong nuôi tôm, có thể mở rộng IoT để giám sát môi trường ao, tự động hóa một số khâu và sử dụng dữ liệu để tối ưu thức ăn. Trong lúa - tôm, cần nhật kí điện tử, mã số vùng trồng, vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc.

BA DINH CM 6
Triển lãm về gạo xanh ngon Cà Mau tháng 4. 2026. Ảnh: Văn Kim Khanh

- Vậy chính sách và các chủ thể trong chuỗi cần thay đổi thế nào để chuyển đổi này không dừng ở mô hình, mà trở thành nền nông nghiệp xanh hiện đại trên diện rộng?

- TS. Trần Minh Hải: Tôi cho rằng cần làm đồng thời ba việc: hoàn thiện chính sách, củng cố niềm tin trong liên kết và nâng năng lực cho cấp cơ sở.

Trước hết, tỉnh cần hoàn thiện khung chính sách theo hướng tích hợp, cụ thể hóa các quy định của Trung ương về liên kết sản xuất, đất trồng lúa và chương trình mục tiêu quốc gia. Cơ chế hỗ trợ cần thực chất hơn, giảm gánh nặng đối ứng cho hợp tác xã, đơn giản hóa thủ tục và phân cấp mạnh cho cấp xã.

Thứ hai là xử lí vấn đề “bẻ kèo” trong liên kết. Có thể áp dụng hợp đồng nguyên tắc cho cả giai đoạn dự án, kèm phụ lục trước mỗi vụ hoặc lứa sản xuất để chốt giá, sản lượng, chất lượng và cơ chế chia sẻ rủi ro. Cần phát huy bảo hiểm nông nghiệp đối với tôm - lúa và chế tài rõ với bên vi phạm.

Thứ ba, dự án liên kết nên gắn với mã số vùng trồng, vùng nuôi, truy xuất nguồn gốc điện tử và các chứng nhận ASC, BAP, GlobalGAP hoặc Organic. Mục tiêu 30.000 ha đạt chứng nhận quốc tế vào năm 2030 đòi hỏi đầu tư đồng bộ về quy trình, dữ liệu, chất lượng và nhân lực.

Chuyển đổi xanh không chỉ là công nghệ; nếu nông dân không thấy lợi ích kinh tế, công nghệ khó duy trì. Vì vậy, mọi mô hình phải chứng minh hiệu quả, giảm chi phí hoặc tăng giá bán, đồng thời tạo thêm giá trị cho hợp tác xã và doanh nghiệp. Nhà nước kiến tạo và kết nối thị trường; doanh nghiệp dẫn dắt tiêu thụ; hợp tác xã tổ chức sản xuất; nông dân là chủ thể thực hiện.

Kết quả sản xuất lúa tháng 8 và lũy kế tám tháng, cùng mức tăng trưởng khu vực I trong thời gian qua, cho thấy Cà Mau có nền tảng mạnh. Giai đoạn tới không nên chạy theo sản lượng bằng mọi giá, mà cần nâng giá trị, giảm phát thải, bảo vệ hệ sinh thái và xây dựng thương hiệu. Nếu làm được, lợi thế tôm, lúa, rừng và biển sẽ tạo nền nông nghiệp xanh, hiện đại, thích ứng khí hậu.

Văn Kim Khanh