Lăng kính

Đạo dùng người của Hoàng đế Lê Hoàn

Hoàng Hải Vân 14/09/2026 16:54

Cuộc kháng chiến thắng lợi chống quân Tống lần thứ nhất (năm 981) do Hoàng đế Lê Hoàn lãnh đạo và trực tiếp làm tướng chỉ huy, là thắng lợi đầu tiên của nước Đại Cồ Việt.

Đại Cồ Việt - một quốc gia mới thống nhất còn nhỏ bé và non trẻ - đã chiến thắng trước đội quân xâm lược của một nước Trung Hoa hùng mạnh dưới triều Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa. Chính Lê Hoàn đã nâng tầm nước Việt, tạo một nền tảng vững chắc cho nền văn minh Lý - Trần phát triển rực rỡ sau đó.

Dẹp nội loạn, chống ngoại xâm

Sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất quốc gia, lần đầu tiên lên ngôi Hoàng đế, nhưng chỉ được 12 năm chưa đủ thời gian củng cố nền độc lập thì ông và con trai là Nam Việt vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại. Nền độc lập của Đại Cồ Việt ta đứng trước cảnh ngàn cân treo sợi tóc: Bên trong thì nội loạn, bên ngoài thì nhà Tống sắp tâm thôn tính.

Ấu chúa Đinh Toàn (còn gọi là Đinh Tuệ) lên ngôi khi mới 6 tuổi. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm nhiếp chính. Không quan tâm đến việc ông toàn tâm toàn ý phò ấu chúa và chuẩn bị đương đầu với quân xâm lược, một số công thần nhà Đinh nghi ngờ ông soán quyền. Với tầm nhìn thiển cận, bất chấp giặc ngoại xâm đang lăm le bờ cõi, họ làm binh biến, mang quân định giết ông. Làm binh biến không phải là đám tướng sĩ “cóc nhái” tầm thường, mà chủ mưu có những đại công thần nhà Đinh như Định quốc công Nguyễn Bặc (chức vụ như tể tướng) cùng các đại thần “khai quốc” nắm trong tay nhiều binh lực như Ngoại giáp Đinh Điền, Vệ úy Phạm Hạp.

Bên trong thì nội loạn, phía bắc thì quân Tống lăm le, còn phía nam thì phò mã Ngô Nhật Khánh (con rể Đinh Tiên Hoàng) làm phản. Ông ta dẫn quân Chiêm Thành với hơn 1.000 thuyền chiến do đích thân vua Chiêm cầm đầu theo đường biển tiến thẳng vào kinh đô Hoa Lư. Rất may đội quân xâm lược này chưa tới nơi đã bị bão dìm chết trên biển (chỉ còn vua Chiêm sống sót).

Trước tình thế hiểm nghèo đó, được tin quân Tống sắp kéo sang, Phạm Cự Lượng cùng các tướng lĩnh vì lợi ích quốc gia đã mặc giáp đi thẳng vào nội phủ đề nghị tôn Lê Hoàn làm thiên tử trước khi xuất quân đánh Tống. Quân sĩ nghe vậy đồng thanh hô “Vạn tuế”. Thái hậu Dương Văn Nga thấy tướng sĩ đồng lòng, bèn lấy long cổn khoác lên người Lê Hoàng, mời lên ngôi Hoàng đế.

Sau khi lên ngôi, ông dẹp yên nội loạn và tiến hành cuộc kháng chiến thắng chống Tống thắng lợi, vang danh sử sách. Sử thần Lê Văn Hưu nhận xét: “Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc (nội loạn), tóm Quân Biện, Phụng Huân (các tướng nhà Tống) như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiên thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được”.

Huy động sức mạnh tinh thần của dân tộc

Khi nền độc lập còn non trẻ, mà phải đối mặt với đội quân xâm lược hùng mạnh như nhà Tống kiêu ngạo xấc láo, Lê Hoàn đã phải huy động sức mạnh của toàn dân tộc. Ngày nay chúng ta không có nhiều sử liệu về quốc lực và kinh tế của Đại Cồ Việt ta thời đó, nhưng việc ông huy động sức mạnh tinh thần của toàn dân được thể hiện trong hai sự kiện rất đáng chú ý:

Thứ nhất: Dựng “Hùng triều ngọc phả” trước khi đánh Tống. Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và các vua Hùng chắc chắn đã có từ khi người Việt ta lập quốc, nhưng phải đến thời Trần mới được ghi trong Lĩnh Nam chích quái, sau đó đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) với 18 đời Hùng Vương. Hiện nay chúng ta đang lưu giữ 4 bản ngọc phả về các vua Hùng: Bản thứ nhất được chép năm Thiên phúc nguyên niên (980) thời vua Lê Đại Hành, bản thứ hai chép thời vua Lê Thánh Tôn (1475), bản thứ ba chép thời vua Lê Kính Tông (1601) và bản thứ tư chép thời vua Khải Định (1919). Như vậy, Lê Hoàn là ông vua đầu tiên dựng “Hùng triều ngọc phả” một năm trước khi đánh Tống.

Dựng lại “Hùng triều ngọc phả” để khẳng định nguồn gốc tổ tiên, khẳng định nước ta là một nước văn minh có chủ quyền từ hàng ngàn năm trước, để đáp trả thái độ xấc xược của nhà Tống coi nước ta là lãnh thổ phụ thuộc, coi dân tộc ta là man di mọi rợ cần được khai hóa; đồng thời để xóa bỏ tâm lý nhược tiểu, nâng cao niềm tự hào của toàn dân và sĩ khí của quân đội.

Bởi vậy mà sau khi thua trận, nhà Tống đã thay đổi giọng lưỡi, ca ngợi Lê “tư cách gồm nghĩa dũng, bẩm tính vốn trung thuần, được lòng người trong nước”. Các sứ thần của họ coi Lê Hoàn “không khác gì vua Tống”.

Có một chi tiết đáng chú ý vào năm 996, khi khi quan trấn thủ địa phương báo với vua Tống “chiến thuyền Giao Chỉ hơn trăm chiếc” vào xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc (trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu), vua Tống không những làm lơ mà còn sai sứ giả là Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn. Khi Nhược Chuyết đến, vua ra đón, không làm lễ, mà bảo với sứ giả rằng: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi đâu" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Cần biết, Phiên Ngung là địa danh thuộc tỉnh Quảng Châu, còn Mân Việt là tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Lê Hoàn thẳng thừng nhắc cho vua Tống biết những vùng đó là lãnh thổ cũ của các vua Hùng “phía tây giáp Tây Thục, phía bắc tới Động Đình Hồ”.

lehoan.jpg
Vua Lê Hoàn đã nâng tầm nước Việt, tạo một nền tảng vững chắc cho nền văn minh Lý - Trần phát triển rực rỡ sau đó. Ảnh minh họa: Dân Việt.

Thứ hai: Theo sách Thiền uyển tập anh, trước khi xuất binh Lê Hoàn đã nhờ thiền sư Khuông Việt đến đền thờ Tì Sa Môn Thiên Vương ở núi Vệ Linh để cầu nguyện. Sách này ghi: “Quân giặc kinh hãi, bèn rút về giữ sông Hữu Ninh. Lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ”.

Ta nên bỏ qua sự linh thiêng của câu chuyện, mà cần chút ý các chi tiết quan trọng. Tì Sa Môn thiên vương là một vị thần có nguồn gốc từ Ấn Độ, được tín ngưỡng dân gian đồng hóa với Phù Đổng thiên vương. Còn núi Vệ Linh, chính là núi Sóc (Sóc Sơn, Hà Nội) là nơi tương truyền Phù Đổng thiên vương sau khi đánh xong giặc Ân đã bay lên trời. Câu chuyện Phù Đổng thiên vương như một thổ thần có từ lâu trong dân gian, đến thời Lê Hoàn, truyền thuyết này được xây dựng thành một câu chuyện hoàn chỉnh, có khung thời gian, có đền thờ, nơi Thánh Gióng sinh ra và nơi Ngài về trời.

Lê Hoàn đã biến Phù Đổng thiên vương từ một thổ thần thành một quốc thần, thành biểu tượng của sức mạnh toàn dân đánh giặc. Truyền thuyết mang tính huyền sử đó sau này được ghi trong Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, rồi chính thức hóa trong chính sử bắt đầu từ Đại Việt sử ký toàn thư. Vị quốc thần đó ngày nay toàn dân ta đều biết, là từ Lê Hoàn.

Đạo dùng người

Lê Hoàn ở ngôi 24 năm, truyền đến con trai Lê Long Đĩnh chỉ được 2 đời. Các sử gia lấy làm khó hiểu khi thấy ông hết đánh đông dẹp bắc lại lo đào sông đắp đập mà không lo chuyện “hưởng nước lâu dài” cho con cháu. Đọc sử sách ta thấy kinh ngạc về đạo dùng người của ông. Tôi nói “đạo dùng người” chứ không nói “thuật dùng người”. “Thuật dùng người” của đế vương xuất phát từ lợi ích cá nhân hoặc hoặc dòng họ, coi nhân tài là quân cờ để củng cố quyền lực, bảo vệ ngai vàng. Còn “đạo dùng người” là xuất phát từ lợi ích của quốc gia xã tắc, sự trường tồn của dân tộc, không bận tâm đến cá nhân và dòng họ mình.

Bởi vậy, sau khi dẹp nội loạn, ông bất đắc dĩ phải giết những người cầm đầu nhưng không sát hại bất cứ ai trong gia đình và phe nhóm của họ. Phạm Hạp không thể không giết, nhưng ông lại dùng em ruột Phạm Hạp là Phạm Cự Lượng làm đại tướng quân, rồi thăng đến Thái úy thống lĩnh quân đội. Nguyễn Bặc không thể không giết, nhưng con trai Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê lại được Lê Hoàn dùng làm tướng và thăng đến chức Hữu Điện tiền chỉ huy sứ thời Tiền Lê. Dùng người mà chỉ nghĩ đến sự tồn vong của đất nước mà không nghĩ đến sự an nguy của bản thân và dòng họ, Lê Hoàn là bậc đế vương hiếm thấy trong lịch sử.

Ngay đối với Lý Công Uẩn, dù lịch sử có nhiều thêu dệt những giai thoại thần thánh hóa về nguồn gốc, thực chất là một đứa trẻ mồ côi được Sư Vạn Hạnh thường đưa đến hầu Lê Hoàn. Lê Hoàn không quan tâm đến nguồn gốc xuất thân, chỉ thấy Công Uẩn thông minh hơn người nên cho ở lại kinh sư học tập quân sự, lại gả con gái là công chúa Lê Thị Phất Ngân và đặc phong Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở Hoa Lư, rồi dần thăng lên chức Điện tiền Chỉ huy sứ. Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế là do biến động của thời cuộc được quần thần tôn lên làm vua, chứ không hề cướp ngôi nhà Lê. Có thể nói, Lý Công Uẩn cũng là “quả ngọt” từ đạo dùng người của Lê Hoàn.

Lê Hoàn khoan dung thấu cảm và nhìn người không hề sai. Phạm Cự Lượng tài đức vẹn toàn, được nhân dân đời đời ngưỡng mộ, sau này được vua Lý Thái Tôn tôn là “Hồng Thánh đại vương”, thờ tại đền Ngự sử. Còn Nguyễn Đê chính là “Nhị tổ” của hoàng tộc nhà Nguyễn sau này, Có người cho rằng Lê Hoàn đã “mất cảnh giác” khi sử dụng nhân vật này, vì chính Nguyễn Đê sau khi Lê Long Đĩnh mất đã cùng với Đào Cam Mộc giúp Lý Công Uẩn “cướp ngôi”. Nhận xét này là thiển cận, Nguyễn Đê không hề “phản chủ”, còn việc ông phò Lý Công Uẩn là phù hợp với lợi ích của đất nước và xu thế của lịch sử.

Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn kính cẩn bảo vệ lăng mộ tông miếu Đinh Tiên Hoàng không chút khinh suất. Đối với hậu duệ Đinh Tiên Hoàng, ông phong Đinh Toàn làm Vệ Vương, tình như cha con. Khi trưởng thành, được tin tưởng giao binh quyền sát cánh cùng hoàng đế.

Vào năm 1001, Lê Hoàn thân chinh đi đánh giặc Cử Long (dẹp phản loạn ở vùng Thanh Hóa ngày nay), cùng đi có Vệ vương Đinh Toàn. ĐVSKTT chép: “Quân giặc thấy vua, giương cung nhắm bắn thì tên rơi, lại giương cung thì dây đứt, tự lấy làm sợ mà rút lui. Vua đi vào thuyền vào Cùng Giang để đuổi. Giặc bày trận hai bên bờ, quan quân bị hãm giữa sông, Vệ Vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua kêu trời ba tiếng, rồi thúc quân đánh, giặc tan”. Dẫn chi tiết đó để thấy ông thương Vệ vương Đinh Toàn như thế nào.

Hoàng Hải Vân