Thời sự

Từ Cát Lái đến Cái Mép - Thị Vải: TP.HCM định hình lại 'cuộc chơi' cảng biển

Hoàng Bắc 16/09/2026 14:01

Sau khi mở rộng không gian phát triển, hệ thống cảng biển TP.HCM có thêm điều kiện để hình thành một mạng lưới cảng biển - logistics liên kết giữa TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ).

Từ quy hoạch hạ tầng, điều phối liên vùng đến đầu tư cảng thông minh, cảng xanh cho thấy yêu cầu chuyển từ phát triển từng cảng riêng lẻ sang tổ chức một hệ sinh thái logistics có tính kết nối cao.

Từ quy hoạch cảng biển đến kết nối hạ tầng

Theo ông Bùi Hòa An - Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, việc mở rộng không gian phát triển của TP.HCM tạo điều kiện để thành phố nhìn nhận hệ thống cảng biển trong một không gian liên kết rộng hơn.

cang-hiep-phuoc-2.jpg
Cảng Hiệp Phước góp phần hình thành hệ thống cụm cảng sông trên trục Đồng Nai - Sài Gòn. Ảnh: Cảng Hiệp Phước.

Bên cạnh các khu vực cảng tại Cát Lái, Hiệp Phước, Nhà Bè, hệ thống còn gắn với cụm cảng sông container trên trục Đồng Nai - Sài Gòn (Bình Dương) và cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu).

Theo Quyết định số 1061/QĐ-BXD năm 2026 của Bộ Xây dựng về điều chỉnh quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải quốc gia, TP.HCM được xác định là cảng biển loại đặc biệt. Quy hoạch cũng đặt hệ thống cảng biển trong yêu cầu tổ chức luồng hàng hóa và phát triển vận tải thủy theo hướng xanh, bền vững.

cang-hiep-phuoc-nha-be.jpg
Sở Xây dựng TP.HCM tập trung đầu tư hạ tầng kết nối giữa hệ thống cảng với các trung tâm logistics. Ảnh: Cảng Phước Hiệp

Dự báo đến năm 2030, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng đạt từ 463,4 - 512,5 triệu tấn; trong đó hàng container đạt khoảng 29,63 - 33,16 triệu TEU.

Từ định hướng quy hoạch, Sở Xây dựng xác định 3 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Đầu tiên là đầu tư hạ tầng kết nối giữa hệ thống cảng với các trung tâm logistics, khu sản xuất và mạng lưới giao thông, qua đó nâng cao khả năng tổ chức luồng hàng và giảm chi phí logistics.

Cùng với đó thúc đẩy phát triển cảng xanh, chuyển đổi số và tự động hóa. Theo đó, kết cấu hạ tầng cảng biển và vận tải thủy nội địa được đặt trong yêu cầu chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường.

Vấn đề quan trọng khác là nghiên cứu các cơ chế thuận lợi hóa thương mại như khu thương mại tự do, cảng mở nhằm rút ngắn thủ tục, thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Liên kết vùng để khai thác hiệu quả hệ thống cảng

Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Đặng Minh Phương - Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP.HCM (HLA), Founder & CEO MP Logistics, cho rằng bài toán của logistics không thể được giải quyết trong phạm vi từng địa phương.

HLA được hình thành trên cơ sở hợp nhất 3 hiệp hội logistics của TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu theo Quyết định 1443/QĐ-UBND năm 2025. Hiệp hội hiện có khoảng 300 doanh nghiệp hội viên, với tổng sản lượng container do các doanh nghiệp hội viên nắm giữ được giới thiệu ở mức hơn 65% sản lượng container cả nước.

footer-banner-614d40211d918.webp
Cụm cảng Cái Mép - Thị Vải có khả năng tiếp nhận các tàu mẹ có sức chở tới 24.000 TEU và khai thác các tuyến trực tiếp đi châu Âu, Bắc Mỹ. Ảnh: Cảng Cái Mép - Thị Vải

Theo bà Đặng Minh Phương, khi dòng hàng hóa ngày càng xuyên suốt qua nhiều địa phương, việc tổ chức logistics cũng cần được đặt trong một không gian liên kết tương ứng.

"Logistics không thể đi một mình. Ranh giới hành chính không thể là ranh giới của dòng chảy hàng hóa", bà Đặng Minh Phương nói.

Từ thực tế quá tải tại một số cửa ngõ, tiềm năng của cảng nước sâu chưa được khai thác đầy đủ và vận tải thủy nội địa còn dư địa phát triển, Chủ tịch HLA đề xuất 5 nhóm giải pháp.

Trong đó, HLA đề xuất xây dựng cơ chế điều phối vùng thực chất, hạn chế sự chia cắt trong quy hoạch và tổ chức hoạt động logistics. Cùng với đó là phát triển vận tải đa phương thức, kết hợp năng lực của cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải với mạng lưới vận tải thủy nội địa.

Cái Mép - Thị Vải có khả năng tiếp nhận các tàu mẹ có sức chở tới 24.000 TEU và khai thác các tuyến trực tiếp đi châu Âu, Bắc Mỹ. Việc kết nối cụm cảng nước sâu này với hệ thống đường thủy và các trung tâm logistics được xem là một trong những hướng để mở rộng không gian khai thác cảng.

HLA cũng đề cập yêu cầu chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đồng bộ, từ chuẩn hóa dữ liệu đến phát triển hạ tầng xanh; đồng thời tăng cường kết nối với các thị trường quốc tế và phát huy vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lí với cộng đồng doanh nghiệp.

Từ một cảng riêng lẻ đến hệ sinh thái logistics

Ở góc độ doanh nghiệp trực tiếp đầu tư và vận hành hạ tầng cảng, bà Ngô Thị Thanh Vy - Tổng giám đốc Công ty CP Cảng Quốc tế QTM, cho rằng cạnh tranh trong lĩnh vực cảng biển đang dần chuyển từ cạnh tranh giữa các cảng riêng lẻ sang cạnh tranh giữa các hệ sinh thái logistics.

Cảng QT QMT
Cảng Quốc tế QTM cho rằng, đang dần chuyển từ cạnh tranh giữa các cảng riêng lẻ sang cạnh tranh giữa các hệ sinh thái logistics. Ảnh: Cảng Phước

Theo bà, khách hàng không chỉ quan tâm đến quy mô cầu bến hay thiết bị của một cảng, mà còn quan tâm tổng thời gian hàng hóa đi từ nơi sản xuất đến thị trường, chi phí của toàn chuỗi, khả năng minh bạch dữ liệu, an toàn và các yêu cầu về môi trường.

Cảng Quốc tế QTM vừa khởi công vào tháng 7/2026. Theo bà Ngô Thị Thanh Vy, việc đầu tư một cảng mới tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận mô hình phát triển ngay từ đầu, thay vì phải điều chỉnh một hệ thống đã được hình thành từ trước.

Một trong những hướng được QTM đặt ra là xây dựng hệ sinh thái logistics song song với quá trình phát triển hạ tầng. Doanh nghiệp chủ động tiếp cận các hãng tàu, chủ hàng, nhà sản xuất và đối tác quốc tế ngay trong giai đoạn xây dựng để chuẩn bị công nghệ, thị trường và dòng hàng.

Cùng với đó là định hướng phát triển cảng thông minh và cảng xanh từ nhu cầu thực tế của khách hàng. Công nghệ và tự động hóa được đặt vào những mục tiêu cụ thể như giảm thời gian tàu chờ, minh bạch dữ liệu và cắt giảm thủ tục.

Theo bà Ngô Thị Thanh Vy, tiêu chuẩn xanh không chỉ liên quan đến yêu cầu môi trường mà ngày càng trở thành một trong những điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Một đề xuất khác được QTM đưa ra là tăng cường đối ngoại địa phương theo hướng gắn kết trực tiếp với hoạt động thương mại và logistics. Thay vì dừng ở kết nối quan hệ, mô hình được đề xuất theo 4 cấp độ: "City to City" - "Port to Port" - "Business to Business" - "Market to Market".

Theo đó, TP.HCM có thể lựa chọn một số thành phố cảng đối tác để hợp tác chuyên sâu, với lộ trình từ đối thoại, kết nối đến triển khai dự án và hình thành dòng thương mại.

Những đề xuất từ cơ quan quản lí, hiệp hội và doanh nghiệp cho thấy phát triển cảng biển TP.HCM đang được đặt trong một không gian rộng hơn, trong đó hạ tầng cảng, giao thông, logistics, công nghệ, môi trường và kết nối thị trường cần được tổ chức đồng bộ.

Từ quy hoạch hệ thống, tăng cường liên kết vùng đến phát triển cảng thông minh, cảng xanh và kết nối chuỗi cung ứng, yêu cầu đặt ra là hình thành một mạng lưới logistics có khả năng khai thác đồng thời lợi thế của TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, qua đó nâng cao năng lực kết nối hàng hóa của khu vực với thị trường trong nước và quốc tế.

Hoàng Bắc