Mỹ - Trung không cần tin nhau vẫn có thể hợp tác kiểm soát AI?
Mỹ và Trung Quốc đang tích cực chuẩn bị cho các vòng thảo luận về an toàn trí tuệ nhân tạo (AI) ngay trước thềm hội nghị thượng đỉnh cấp cao dự kiến diễn ra vào ngày 24/9 tại Washington D.C.
Đây sẽ là cuộc gặp trực tiếp quan trọng giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, với chương trình nghị sự tập trung sâu vào lĩnh vực công nghệ và an ninh quốc gia.

Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh quyết liệt từ chip tới các mô hình AI tiên tiến, nên một số chuyên gia cho rằng bất kỳ cơ chế kiểm soát rủi ro nào cũng phải hoạt động được ngay cả khi hai bên tiếp tục nghi ngờ nhau. Reuters ngày 4/9 dẫn các nguồn tin cho biết Mỹ và Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc đối thoại riêng về an toàn AI vào giữa tháng 9. Tuy nhiên, một quan chức Nhà Trắng khi đó nói chưa có cuộc họp nào như vậy được lên kế hoạch chính thức. Cuộc gặp Trump - Tập dự kiến diễn ra tại Washington ngày 24/9, nhưng đến giữa tháng 9 vẫn chờ Bắc Kinh xác nhận chính thức.
Ngày 15/9, Shlomit Wagman, nghiên cứu viên tại Trung tâm Mossavar-Rahmani thuộc Trường Kennedy của Đại học Harvard, viết trên tạp chí rằng thỏa thuận an toàn AI khả thi đầu tiên phải được thiết kế cho một môi trường gần như không có lòng tin. Bà Wagman từng đứng đầu Nhóm Rủi ro của Lực lượng đặc nhiệm hành động tài chính FATF.
Trong khi đó, hai chuyên gia Ryan Hass và R. David Edelman của Viện Brookings đưa ra lập luận tương tự từ một hướng khác. Họ cho biết kênh đối thoại Track II về AI và an ninh quốc gia giữa Viện Brookings (Mỹ) và Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) được duy trì nhờ “lợi ích chung, không phải lòng tin”. Track II không phải đàm phán chính thức giữa chính phủ, mà tạo không gian để chuyên gia hai bên thử nghiệm ý tưởng, làm rõ những điểm dễ gây hiểu nhầm và tìm kiếm các lĩnh vực có thể hợp tác.
Vì sao không bên nào dám giảm tốc trước
Nếu các phòng thí nghiệm AI hàng đầu của Mỹ tự giảm tốc vì lo hệ thống an toàn chưa theo kịp, trong khi Trung Quốc tiếp tục tiến lên, Washington có thể coi đó là tự nhường lợi thế. Bắc Kinh cũng có lí do tương tự nếu họ nghĩ Mỹ sẽ không giữ cam kết.
Mỹ và Trung Quốc từng tìm được một điểm đồng thuận hẹp. Tháng 11/2024, cựu Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình nhất trí rằng quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân phải nằm trong tay con người, không giao cho AI. Thỏa thuận không có cơ chế kiểm chứng, nhưng cho thấy hai bên vẫn có thể thống nhất về một giới hạn cụ thể.
Sau cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và ông Tập tại Bắc Kinh tháng 5/2026, Bộ Ngoại giao Trung Quốc xác nhận hai nhà lãnh đạo đồng ý mở đối thoại cấp chính phủ về AI. Reuters ngày 4/9 cho biết Washington và Bắc Kinh chuẩn bị cho cuộc trao đổi đầu tiên về an toàn AI, với các chủ đề như tấn công mạng do AI hỗ trợ và chia sẻ cảnh báo.
Điểm chung quan trọng nhất là nguy cơ AI khiến một cuộc khủng hoảng vượt khỏi tầm kiểm soát. Một cuộc tấn công mạng do AI thực hiện, chẳng hạn, có thể bị hiểu nhầm là hành động có chủ ý của phía bên kia và kéo theo phản ứng trả đũa. Theo Hass và Edelman, chính nguy cơ leo thang ngoài ý muốn như vậy khiến việc duy trì liên lạc vẫn có lợi cho cả Washington lẫn Bắc Kinh, ngay cả khi cạnh tranh chiến lược giữa hai nước chưa hạ nhiệt.
Trung Quốc cũng tính đến rủi ro mất kiểm soát
Tranh luận ở Mỹ gần đây thường xoay quanh kịch bản AI trở nên khó kiểm soát khi năng lực tăng nhanh. Trung Quốc dùng ngôn ngữ thận trọng hơn, nhưng hồ sơ chính sách cho thấy Bắc Kinh cũng xem đây là rủi ro cần quản trị.
Ngày 14/9, Trung Quốc công bố Khung Quản trị An toàn AI 3.0. Văn bản tiếp tục đặt yêu cầu “an toàn và có thể kiểm soát” ở vị trí trung tâm, đồng thời cập nhật cách phân loại rủi ro và biện pháp ứng phó.
Tháng 5, Cục Quản lí Không gian mạng Trung Quốc, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia cùng Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin ban hành hướng dẫn riêng cho tác nhân AI. Văn bản yêu cầu kiểm soát quyền hạn, phát hiện hành vi bất thường, ngăn tác nhân vượt phạm vi được giao và duy trì khả năng can thiệp của con người.
Reuters nhận định Trung Quốc tập trung nhiều vào các rủi ro vận hành như dữ liệu bị đầu độc, thuật toán bị can thiệp và tác nhân hoạt động vượt quyền.
Matt Sheehan, chuyên gia về AI Trung Quốc tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, gọi một hướng hợp tác thực tế hơn là “an toàn AI song song”. Mỹ và Trung Quốc không cần cùng kí một bộ quy định. Mỗi bên có thể tự nâng chuẩn an toàn vì lợi ích của chính mình, đồng thời duy trì kênh trao đổi để hiểu đối phương đang kiểm thử và quản lí rủi ro ra sao.
Theo ông Sheehan, nếu hai phía không biết đối phương có hàng rào gì, họ dễ giả định rằng bên kia đang bỏ qua an toàn để chạy nhanh hơn. Ông cho rằng đối thoại không nhằm buộc hai nước làm giống nhau, mà giúp mỗi bên biết phía kia đang quản lí những nguy cơ mới theo cách nào.
Ba việc có thể làm trước khi nghĩ tới hiệp ước lớn
Scott Singer, đồng giám đốc Sáng kiến AI Trung Quốc tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, cho rằng Mỹ và Trung Quốc không cần một “đại thỏa thuận” ngay lúc này. Ông đề xuất bắt đầu bằng những biện pháp hẹp hơn, gồm giảm rủi ro nghiêm trọng, chuẩn bị cách xử lí khủng hoảng và đầu tư vào công nghệ kiểm chứng.
Một trở ngại nằm ở kênh liên lạc. “Đường dây nóng” nghe hợp lí, nhưng Singer cho rằng trong hệ thống ra quyết định của Trung Quốc, người trực có thể không đủ thẩm quyền trả lời ngay khi chưa xin ý kiến cấp trên. Một kênh trao đổi bằng văn bản có thể phù hợp hơn.
Khó hơn là bài toán kiểm chứng. Hai nước có thể cùng tuyên bố một nguyên tắc, nhưng nếu không biết bên kia có tuân thủ hay không, cam kết sẽ nhanh chóng mất giá trị. Ông Singer lưu ý những nguyên mẫu công nghệ xác minh đầu tiên mới bắt đầu được phát triển và có thể mất nhiều năm mới đủ trưởng thành. Không bên nào cũng muốn mở mã nguồn hay dữ liệu huấn luyện cho đối thủ kiểm tra trực tiếp.
Hai chuyên gia Hass và Edelman cho rằng đối thoại kỹ thuật vẫn hữu ích ngay cả khi chưa tạo ra hiệp ước. Hai bên có thể trao đổi cách kiểm tra những năng lực nguy hiểm, chia sẻ cảnh báo về sự cố và thống nhất một số thuật ngữ để tránh hiểu sai.
Mục tiêu càng hẹp càng dễ tìm điểm chung. Mỹ và Trung Quốc khó đồng ý ngay về kiểm soát chip, mô hình mở hay tốc độ phát triển AI. Nhưng họ có thể dễ nói chuyện hơn về những tình huống cả hai đều muốn tránh, chẳng hạn tấn công mạng tự động vượt khỏi phạm vi ban đầu hoặc hệ thống quân sự hiểu sai tín hiệu của đối phương. Brookings coi chính nguy cơ leo thang ngoài ý muốn là một lí do để tiếp tục đối thoại dù cạnh tranh chiến lược chưa giảm.
Bài học từ một hệ thống dựng trên sự ngờ vực
Bà Wagman đề xuất tiến thêm một bước. Thay vì cố thỏa thuận AI nên phát triển nhanh tới đâu, Mỹ và Trung Quốc có thể thống nhất trước những dấu hiệu buộc hai bên phải “đạp phanh”. Đó có thể là bước nhảy bất thường trong khả năng AI tự nghiên cứu, hành vi ngày càng tinh vi nhằm đánh lừa kiểm thử hoặc năng lực mới có khả năng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Đây mới là đề xuất của Wagman, chưa phải chính sách của Washington hay Bắc Kinh.
Bà Wagman lấy FATF, cơ chế quốc tế chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, làm ví dụ. FATF không hoạt động vì các chính phủ hoàn toàn tin nhau. Các nước chấp nhận một bộ tiêu chuẩn, sau đó trải qua đánh giá chuyên môn. Kết quả có thể tạo sức ép thông qua chính phủ, tổ chức tài chính và thị trường.
Áp sang AI, bà hình dung một nhóm chuyên gia kĩ thuật xác định các chỉ dấu nguy hiểm đã xuất hiện hay chưa. Một liên minh rộng hơn có thể khiến việc phá cam kết trở nên tốn kém thông qua những nguồn lực mà AI tiên tiến còn phụ thuộc như chip cao cấp, thiết bị bán dẫn, hạ tầng đám mây, vốn và thị trường lớn.
Mô hình này vẫn có lỗ hổng. Không dễ thống nhất thế nào là “quá nguy hiểm”, càng khó kiểm chứng mà không đụng tới bí mật công nghệ.
Các chuyên gia vì thế đều bắt đầu từ mục tiêu hẹp. Sheehan chú trọng việc hai nước cùng nâng năng lực an toàn trong nước và hiểu hơn cách phía bên kia quản lý rủi ro. Singer tập trung vào xử lý khủng hoảng và kiểm chứng. Hass và Edelman nhấn mạnh lợi ích chung trong việc tránh leo thang ngoài ý muốn. Wagman đi xa hơn khi tìm cách biến đánh giá kỹ thuật thành hậu quả đủ lớn để việc phá cam kết không còn dễ dàng.
Mỹ và Trung Quốc chưa cần thống nhất về tương lai của AI. Mục tiêu thực tế hơn là xác định vài rủi ro mà cả hai đều muốn tránh và giữ kênh liên lạc khi sự cố xảy ra. Nếu làm được những việc hẹp đó, hợp tác AI có thể bắt đầu từ chính sự ngờ vực. Không phải tin rằng đối phương sẽ luôn giữ lời, mà là khiến việc phá cam kết dễ bị phát hiện và đủ tốn kém để cả hai phải cân nhắc.


