Hỏi - Đáp

Trung Quốc không còn là thị trường dễ tính với trái cây xuất khẩu từ Việt Nam

Văn Kim Khanh • 24/09/2026 07:08

Sản xuất thông minh, truy xuất minh bạch, tiêu chuẩn xanh là chìa khóa để trái cây Việt giữ thị trường Trung Quốc.

Xung quanh vấn đề trên, phóng viên Tạp chí Một Thế Giới phỏng vấn Tổng thư kí Hiệp hội trái cây Việt Nam Đặng Phúc Nguyên.

- Trung Quốc đang là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam, nhưng yêu cầu ngày càng khắt khe. Theo ông, canh tác trái cây thông minh cần bắt đầu từ đâu?

- Ông Đặng Phúc Nguyên: Trung Quốc hiện chiếm khoảng 65 - 70% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, nên vẫn là thị trường đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, đây không còn là thị trường “dễ tính” hay chủ yếu chuộng hàng tiểu ngạch. Các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh và giảm phát thải ngày càng cao.

Tổng thư kí Hiệp hội trái cây Việt Nam Đặng Phúc Nguyên. Ảnh: H.B
Tổng thư kí Hiệp hội trái cây Việt Nam Đặng Phúc Nguyên. Ảnh: H.B

Vì vậy, canh tác thông minh phải bắt đầu bằng thay đổi tư duy. Không thể đến mùa thu hoạch mới tìm thị trường, mà phải xác định ngay từ đầu sản xuất loại trái cây gì, theo tiêu chuẩn nào và bán cho thị trường nào. ĐBSCL cần hình thành “Bản đồ sản xuất xanh”, sử dụng dữ liệu đất đai, nguồn nước, khí hậu để quy hoạch vùng trồng theo tín hiệu thị trường. Những cây thế mạnh như sầu riêng, thanh long, xoài, mít, chuối, chanh leo, bưởi, chanh không hạt cần được tổ chức tập trung, tránh phát triển tự phát dẫn tới cung vượt cầu.

Công nghệ số phải đi vào quản lí vùng trồng. Mã số vùng trồng cần được theo dõi bằng GIS, nhật kí điện tử và quản lí theo thời gian thực, hạn chế mượn mã số, gian lận xuất xứ.

- Khi khai thác thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cần chú ý gì? Có những bài học thực tế về doanh nghiệp mất tiền, vùng trồng bị thương lái lừa hoặc thất bại vì không đáp ứng tiêu chuẩn mới?

- Ông Đặng Phúc Nguyên: Điều đầu tiên là phải tuân thủ đầy đủ quy định của phía Trung Quốc. Các Lệnh 248, 249, 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc đặt ra yêu cầu về đăng kí mã số cơ sở sản xuất, chế biến và mã số vùng trồng. Vi phạm về sinh vật gây hại, dịch hại kiểm dịch có thể dẫn đến tạm dừng nhập khẩu hoặc đình chỉ mã số.

ONG DPN 4
Sầu riêng chưa canh tác theo hướng xanh hoá và số hoá xuống đường ở Cần Thơ hồi tháng 5. Ảnh: Văn Kim Khanh

Tiếp theo là dư lượng và an toàn thực phẩm. Giới hạn dư lượng tối đa đối với thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, chất bảo quản ngày càng chặt chẽ. Vì vậy, không thể sản xuất theo thói quen rồi đến lúc xuất khẩu mới tìm cách xử lí. Toàn bộ quá trình phải được kiểm soát ngay tại vùng trồng.

Người tiêu dùng Trung Quốc, nhất là ở các đô thị lớn, quan tâm hơn đến sản phẩm xanh, an toàn và nguồn gốc rõ ràng. Nhà nhập khẩu cũng chú ý logistics xanh, giảm dấu chân carbon và bao bì thân thiện môi trường.

Về những trường hợp doanh nghiệp phải trả giá bằng tiền, vùng trồng bị thương lái lừa hoặc thất bại cụ thể, tài liệu của Hiệp hội hiện chưa nêu tên doanh nghiệp, vùng trồng hay số tiền thiệt hại, nên không nên đưa những trường hợp chưa được kiểm chứng thành thông tin chính thức. Nhưng bài học được chỉ ra rất rõ: không sản xuất tự phát, không mượn mã số, không gian lận xuất xứ và phải kiểm soát chặt từ vùng trồng đến cơ sở đóng gói. Khi sản xuất không theo tiêu chuẩn thị trường, rủi ro bị từ chối hoặc đình chỉ mã số sẽ tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và người trồng.

Một điểm yếu khác là phụ thuộc lớn vào trái cây tươi. Hơn 70% rau quả xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở dạng tươi, trong khi chế biến sâu khoảng 30%. Khi thời tiết bất lợi, dịch bệnh hoặc thông quan kéo dài, trái cây tươi dễ bị tổn thương.

- Hiệp hội Rau quả Việt Nam đang làm gì cụ thể về đào tạo, công nghệ, thị trường? Làm thế nào để hạn chế tình trạng năm nào cũng phải “giải cứu” trái cây?

Sầu riêng xuất khẩu. Ảnh: T.L
Sầu riêng xuất khẩu. Ảnh: T.L

- Ông Đặng Phúc Nguyên: Muốn giải quyết căn cơ phải chuyển từ “giải cứu” sang tổ chức lại sản xuất theo chuỗi. Hiệp hội đề xuất xây dựng “Bản đồ sản xuất xanh” cho ĐBSCL, gắn vùng trồng với dữ liệu, tiêu chuẩn, thị trường và chuỗi giá trị. Đây là cách để sản xuất theo tín hiệu thị trường thay vì chạy theo phong trào.

Về đào tạo, cần hỗ trợ nông dân và hợp tác xã kinh phí đào tạo, cấp mã số vùng trồng và chứng nhận quốc tế.

Về công nghệ, trọng tâm là GIS, nhật kí điện tử, quản lí mã số vùng trồng theo thời gian thực, tưới tiết kiệm, quản lí dịch hại tổng hợp, bảo quản sau thu hoạch và chuỗi lạnh. Hiệp hội đề xuất tăng cường chuyển giao công nghệ bảo quản tiên tiến và liên kết đầu tư hạ tầng chuỗi cung ứng thông minh xuyên biên giới.

Về thị trường, cần kết nối trực tiếp doanh nghiệp, hợp tác xã ĐBSCL với các tập đoàn phân phối, chuỗi bán lẻ lớn của Trung Quốc thông qua hợp đồng bao tiêu dài hạn, giảm tầng nấc trung gian.

Muốn không còn cảnh được mùa mất giá, phải tăng chế biến sâu. Trái cây có thể cấp đông, sấy thăng hoa, chế biến nước ép cô đặc, đồ hộp, bột dinh dưỡng hoặc tinh dầu từ phụ phẩm.

Thị trường Trung Quốc với tiêu chuẩn xanh và chất lượng cao là động lực để ngành trái cây tái cấu trúc. Đó cũng là cách nâng giá trị trái cây, tăng khả năng đàm phán và tạo nền tảng liên kết lâu dài giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu. Khi vùng trồng được quy hoạch, canh tác thông minh, mã số minh bạch, chế biến sâu và chuỗi cung ứng được tổ chức đồng bộ, trái cây ĐBSCL sẽ chủ động hơn về thị trường, giảm rủi ro và từng bước thay thế tư duy “giải cứu” bằng sản xuất theo đơn đặt hàng và tiêu chuẩn.

Văn Kim Khanh