Hỏi - Đáp

Chủ động con giống, mở hướng nuôi cá bông lau ĐBSCL

Văn Kim Khanh • 25/09/2026 08:18

Sinh sản nhân tạo cá bông lau thành công mở lựa chọn thủy sản thích nghi nước lợ, hướng đến chủ động con giống.

Cá bông lau (Pangasius krempfi) từ lâu đã được biết đến là một loài cá có giá trị cao ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhờ chất lượng thịt thơm ngon. Đây là loài cá rộng muối, có khả năng thích nghi với nhiều mức độ mặn khác nhau, từ môi trường nước ngọt đến nước lợ. Tuy nhiên, việc nhân giống từ lâu chưa thực hiện thành công. Mới đây, Đại học Cần Thơ thông báo đã phối hợp với các viện trường Châu Âu cho sinh sản nhân tạo thành công. Xung quanh vấn đề này phóng viên Một Thế Giới phỏng vấn GS.TS. Nguyễn Thanh Phương, Giảng viên cao cấp, Trường Thuỷ sản, Đại học Cần Thơ (ĐHCT), Đại biểu Quốc hội Khoá XIII, XI, XV, XVI.

gs.ts nguyen thanh phuong
GS.TS. Nguyễn Thanh Phương, Giảng viên cao cấp, Trường Thuỷ sản, ĐHCT. Ảnh: T.L

- Thưa GS. TS. Nguyễn Thanh Phương, vì sao ĐHCT lựa chọn cá bông lau để nghiên cứu sinh sản nhân tạo trong bối cảnh ĐBSCL chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu?

- GS.TS Nguyễn Thanh Phương: ĐBSCL đang đứng trước yêu cầu đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi, nhất là những loài có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường và điều kiện nhiễm mặn. Đây cũng là định hướng của dự án hợp tác quốc tế DIVERSAQUA, nhằm đa dạng hóa loài thủy sản nuôi ở ĐBSCL thông qua chọn lọc các loài cá da trơn nước lợ, hướng đến phát triển bền vững.

Chúng tôi đã khảo sát trên nhiều đối tượng tiềm năng khác nhau và nhận thấy cá bông lau phù hợp với hướng nghiên cứu này. Ở Việt Nam, hiện chỉ có một số ít hộ dân tại các vùng ven biển thử nghiệm nuôi thương phẩm cá bông lau, trong đó nguồn giống chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khai thác từ tự nhiên. Sự thiếu chủ động về nguồn giống khiến hoạt động nuôi cá bông lau còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún và khó mở rộng quy mô. Bên cạnh đó, giá cá giống tự nhiên tương đối cao cũng làm tăng đáng kể chi phí đầu tư, trở thành một trong những rào cản đối với việc phát triển và mở rộng mô hình nuôi loài cá này. Vì vậy, việc chủ động con giống là yêu cầu quan trọng để nghiên cứu và phát triển nghề nuôi.

tra 7
Cá bông lau sinh sản nhân tạo 20 ngày tuổi. Ảnh: T.T.S

Sau hơn hai năm, nhóm nghiên cứu đã nuôi cá bố mẹ thành thục từ cá giống trong hệ thống bể tuần hoàn, sau đó kích thích sinh sản nhân tạo bằng các loại kích dục tố thường dùng trong nuôi trồng thủy sản. Cá bột tiếp tục được ương đến giai đoạn cá hương và cá giống.

Đây là cơ sở để từng bước chủ động nguồn giống. Điều chúng tôi quan tâm không chỉ là tạo ra cá giống, mà còn xây dựng nền tảng khoa học để đánh giá khả năng thích nghi, sinh trưởng và triển vọng nuôi trong điều kiện của vùng. Khi môi trường sản xuất thay đổi, có thêm đối tượng thủy sản phù hợp nước lợ sẽ giúp ngành thủy sản có thêm lựa chọn bên cạnh các đối tượng truyền thống.

- Kết quả sinh sản nhân tạo cá bông lau có ý nghĩa như thế nào đối với nghiên cứu thủy sản và sản xuất ở ĐBSCL?

- GS.TS. Nguyễn Thanh Phương: Ý nghĩa đầu tiên là tạo cơ sở để chủ động con giống. Với một loài đang được nuôi thử nghiệm nhưng nguồn giống chủ yếu từ tự nhiên, đây là bước quan trọng. Có con giống nhân tạo, các nghiên cứu tiếp theo mới thuận lợi hơn, từ đặc điểm sinh học, kĩ thuật ương nuôi đến đánh giá khả năng nuôi thương phẩm.

tra 3
Đánh lưới bắt cá bông lau trên sông Hậu. Ảnh: T.L

Kết quả này còn có giá trị ở chỗ quá trình được thực hiện theo chuỗi, từ nuôi vỗ cá bố mẹ đến sinh sản và ương cá con. Việc cá bố mẹ thành thục từ cá giống trong hệ thống bể tuần hoàn cho thấy nghiên cứu đã tạo được điều kiện kiểm soát để tiến tới chủ động sinh sản. Sau khi kích thích sinh sản, cá bột được tiếp tục ương trong bể đến cá hương và cá giống. Chuỗi kết quả này tạo cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn về kĩ thuật giống, đồng thời giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn cá giống tự nhiên.

Đối với sản xuất, đây là bước mở đầu để đánh giá khả năng hình thành quy trình nuôi mới. Nếu các nghiên cứu tiếp theo hoàn thiện được kĩ thuật và chứng minh hiệu quả, cá bông lau có thể xem xét trong nhóm đối tượng thủy sản phù hợp với vùng chịu tác động của nước lợ và xâm nhập mặn. Tuy nhiên, việc mở rộng nuôi cần dựa trên kết quả nghiên cứu, tránh phát triển khi điều kiện kĩ thuật và kinh tế chưa được làm rõ.

Kết quả cũng góp phần bổ sung một đối tượng cá da trơn có giá trị kinh tế và khả năng thích nghi với điều kiện nhiễm mặn do tác động của biến đổi khí hậu. ĐBSCL là vùng sản xuất thủy sản lớn, nhưng điều kiện tự nhiên đang thay đổi. Xâm nhập mặn và biến động môi trường đặt ra yêu cầu lựa chọn những đối tượng nuôi phù hợp hơn. Vì vậy, nghiên cứu cá bông lau không chỉ tạo thêm một loài nuôi mới mà còn nằm trong bài toán thích ứng với môi trường sản xuất.

Cá bông lau có khối lượng thương phẩm trung bình khoảng 2-3 kg, thịt ngon và có giá trị kinh tế. Nếu các nghiên cứu tiếp theo chứng minh được hiệu quả kĩ thuật và kinh tế, loài cá này có thể trở thành lựa chọn bổ sung cho người nuôi ở khu vực phù hợp. Tuy nhiên, sinh sản nhân tạo hiện nay mới là nền tảng khoa học ban đầu. Từ cá giống đến mô hình nuôi thương phẩm ổn định còn nhiều bước phải tiếp tục: hoàn thiện quy trình sản xuất giống, theo dõi chất lượng con giống, nghiên cứu điều kiện nuôi, thức ăn, tốc độ sinh trưởng, khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế. Khi các yếu tố được đánh giá đầy đủ, kết quả mới có thể chuyển giao rộng hơn.

Dự án DIVERSAQUA được ARES-CCI, Vương quốc Bỉ, tài trợ; phía Bỉ có Đại học Namur, đơn vị chủ trì với GS.TS. Patrick Kestemont là chủ nhiệm, cùng Đại học Liège; phía Việt Nam có ĐHCT.

tra 4
Cá bông lau, đặc sản sông Cửu Long. Ảnh: T.L

- Từ thành công bước đầu này, Đại học Cần Thơ sẽ tiếp tục nghiên cứu cá bông lau và định hướng đưa kết quả vào thực tiễn như thế nào?

- GS.TS. Nguyễn Thanh Phương: Trước hết, Trường Thủy sản, ĐHCT sẽ tiếp tục hoàn thiện nghiên cứu về cá giống và nuôi thương phẩm. Thành công trong sinh sản nhân tạo mới tạo cơ sở ban đầu; nhiệm vụ tiếp theo là làm rõ các yêu cầu kĩ thuật để chủ động sản xuất giống có chất lượng phù hợp, đồng thời đánh giá khả năng phát triển của cá bông lau trong các điều kiện nuôi.

Về lâu dài, mục tiêu không chỉ là tạo thêm một đối tượng nuôi mà là xây dựng hướng đa dạng hóa thủy sản phù hợp với xu thế biến đổi môi trường. ĐBSCL cần những mô hình sản xuất có khả năng thích ứng, trong đó khoa học và công nghệ phải cung cấp cơ sở để người dân lựa chọn đối tượng, quy trình và phương thức sản xuất phù hợp.

Tôi cho rằng thành công trong sinh sản nhân tạo cá bông lau là bước tiến có ý nghĩa, nhưng cần tiếp tục nghiên cứu thận trọng, có hệ thống và gắn với thực tiễn. Trước mắt, cơ sở quan trọng đã được tạo ra là nguồn giống nhân tạo. Từ nền tảng đó, Trường Thủy sản tiếp tục nghiên cứu cá giống, nuôi thương phẩm và đánh giá khả năng đưa kết quả vào sản xuất.

Mục tiêu cuối cùng là biến kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tế cho ngành thủy sản ĐBSCL, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, tăng khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu và mở thêm hướng phát triển sản phẩm thủy sản. Kết quả nghiên cứu cũng tạo cơ sở để Đại học Cần Thơ tiếp tục gắn khoa học với những yêu cầu thực tiễn của ngành thủy sản vùng, nhất là trong bối cảnh môi trường sản xuất ngày càng biến động.

Văn Kim Khanh