GS. Lê Văn ThiêmKỳ 2: Xếp lại bằng Tiến sĩ Châu Âu, chọn dép cao su về chiến khu
Từ bỏ sự nghiệp đỉnh cao tại Paris và Zurich, Giáo sư Lê Văn Thiêm chọn khoác ba lô, đi dép cao su về chiến khu, đem tư duy khoa học hiện đại thắp sáng giáo dục kháng chiến.

N
ăm 1949, khi sự nghiệp học thuật tại Châu Âu đang ở đỉnh cao danh vọng với hai tấm bằng Tiến sĩ danh giá, Giáo sư Lê Văn Thiêm đã đưa ra một quyết định làm thay đổi cuộc đời mình: Từ bỏ tháp ngà tri thức phương Tây. Vượt qua hành trình bí mật xuyên lục địa từ Zurich, Marseille qua Băng Cốc để về chiến khu Việt Bắc, nhà toán học kiệt xuất đã xếp lại những công trình hàn lâm sang một bên để cùng nhân dân chịu gian khổ, đặt những viên gạch móng đầu tiên cho nền giáo dục đại học và khoa học độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Lựa chọn lịch sử năm 1949: Xếp lại tháp ngà tri thức Châu Âu
Sau khi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Quốc gia về Toán học (Doctorat d'État) tại Đại học Zurich năm 1948 dưới sự hướng dẫn của nhà toán học lừng danh Rolf Nevanlinna, tên tuổi của nhà toán học trẻ Lê Văn Thiêm đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong giới nghiên cứu giải tích phức tại Châu Âu.
Với việc giải quyết trọn vẹn bài toán ngược của Lý thuyết phân phối giá trị Nevanlinna – một giả thuyết hóc húa tồn tại nhiều năm, ông đứng trước những cơ hội nghề nghiệp mà bất kỳ nhà khoa học thế giới nào cũng mơ ước. Các đại học danh tiếng tại Thụy Sĩ, Pháp và Mỹ thời bấy giờ đều sẵn sàng dành cho ông vị trí giảng dạy dài hạn, những phòng thí nghiệm hiện đại cùng các khoản tài trợ nghiên cứu dồi dào.

Tuy nhiên, giữa lòng kinh đô ánh sáng Paris hay thành phố Zurich yên bình, tâm trí của người con làng Đông Thái (Hà Tĩnh) chưa bao giờ nguôi ngoai hướng về quê nhà. Ở Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào giai đoạn vô cùng gay go, gian lao. Chính phủ Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang phải rút lên chiến khu Việt Bắc, xây dựng lực lượng từ con số không trong điều kiện thiếu thốn về mọi mặt: từ lương thực, vũ khí cho đến lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật.
"Ở Châu Âu, tôi có thể công bố thêm nhiều công trình toán học có giá trị, có thể sống một cuộc sống đầy đủ vật chất. Nhưng ở quê nhà, dân tộc ta đang chiến đấu cho độc lập, tự do. Một nền khoa học không thể phát triển trên một đất nước còn mất tự do. Tôi phải về để cùng các đồng chí xây dựng nền khoa học cho chính dân tộc mình."
- GS. Lê Văn Thiêm (Trích tâm sự với kiều bào tại Paris trước ngày lên đường về nước năm 1949, tư liệu Viện Toán học)
Năm 1948, thông qua đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp (Bộ phận do đồng chí Trần Ngọc Danh phụ trách), nhà toán học Lê Văn Thiêm đã gửi tâm thư bày tỏ nguyện vọng tha thiết: Xin được từ bỏ mọi điều kiện làm việc tại Châu Âu để trở về nước tham gia kháng chiến.
Đối với ông, toán học không phải là một thứ nghệ thuật vị nghệ thuật khép kín trong tháp ngà viện hàn lâm. Khi Tổ quốc còn chìm trong khói lửa, dân tộc còn chịu nạn thất học và nghèo đói, thì danh vọng cá nhân ở các viện nghiên cứu phương Tây không thể đem lại ý nghĩa trọn vẹn. Ông hiểu rằng, một nền khoa học chân chính chỉ có thể phát sinh và đơm hoa kết trái trên một đất nước hoàn toàn tự do và độc lập.
Hành trình bí mật xuyên lục địa: Từ Zurich, Marseille đến Băng Cốc và chiến khu
Ý định trở về Tổ quốc của Giáo sư Lê Văn Thiêm gặp phải sự cản trở và giám sát gắt gao từ lực lượng mật thám Pháp. Với tư cách là một trí thức đỉnh cao có tầm ảnh hưởng, việc ông trở về vùng kháng chiến của Việt Minh là điều chính quyền colonial thời đó muốn ngăn chặn bằng mọi giá. Do đó, việc di chuyển trực tiếp từ Pháp hay Thụy Sĩ về Việt Nam bằng các tuyến đường hàng hải hay hàng không chính thức là hoàn toàn bất khả thi.

Để vượt qua hàng rào kiểm soát, một kế hoạch di chuyển bí mật xuyên qua nhiều quốc gia đã được Cơ quan Đại diện của ta phối hợp cùng các tổ chức kiều bào yêu nước thiết lập:
Chặng 1 - Thu xếp tại Thụy Sĩ và Pháp: Ông thu xếp công việc giảng dạy tại Đại học Zurich, bí mật đóng gói các tài liệu, sách vở toán học quý giá rồi chuyển về Paris.
Chặng 2 - Vượt Địa Trung Hải sang Băng Cốc: Dưới sự hỗ trợ của mạng lưới kiều bào yêu nước, ông đóng giả làm một hành khách dân sự, lên tàu thủy từ cảng Marseille (Pháp) đi qua kênh đào Suez để sang Băng Cốc (Thái Lan) – nơi đang có Cơ quan Đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Đông Nam Á do đồng chí Phạm Ngọc Thạch phụ trách.

Chặng 3 - Băng rừng xuyên biên giới về căn cứ: Tại Băng Cốc, Giáo sư Lê Văn Thiêm cùng một số trí thức kiều bào được lực lượng giao liên dẫn đường vượt qua biên giới Thái Lan - Lào, lội bộ qua những dãy núi đại ngàn miền Tây Quảng Bình và Thừa Thiên để bước vào vùng tự do Liên khu IV.
Chuyến đi kéo dài nhiều tháng trời với hàng ngàn cây số vượt biển, băng rừng, lội suối, đối mặt với nguy cơ bị mật thám phục kích và những cơn sốt rét rừng ngã ngựa. Người trí thức vốn quen với bảng đen, phấn trắng và những thư viện Châu Âu ấm áp nay phải khoác ba lô, đi dép cao su, băng qua những đoạn đường rừng đầy hiểm trở. Tinh thần kiên trung và ý chí sắt đá ấy đã chứng minh trọn vẹn bản lĩnh của một nhà khoa học yêu nước.
Xây dựng nền giáo dục đại học kháng chiến giữa đại ngàn Việt Bắc
Mùa thu năm 1950, sau khi ra đến căn cứ địa Việt Bắc, Giáo sư Lê Văn Thiêm được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng hệ thống giáo dục đại học khoa học cơ bản cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay trong lòng chiến khu.
Đây là một nhiệm vụ tưởng chừng như không thể thực hiện trong điều kiện chiến tranh ác liệt:

Cơ sở vật chất thiếu thốn: Trường học không có nhà cao tầng hay phòng thí nghiệm, mà chỉ là những lán nứa, mái lá ngụy trang dưới tán rừng sâu ATK (An toàn khu) Thái Nguyên, Tuyên Quang để tránh sự phát hiện của máy bay địch.
Thiếu hụt giáo trình tiếng Việt: Toàn bộ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo bằng tiếng Pháp, tiếng Đức mang từ Châu Âu về phải được ông cùng các đồng nghiệp dịch, tổng hợp và biên soạn lại cấp tốc sang tiếng Việt.
Đối tượng người học đa dạng: Sinh viên là những chiến sĩ vừa rời tay súng ngoài mặt trận, những học sinh vượt qua vùng địch hậu ra chiến khu, mang trong mình khao khát học tập để phụng sự kháng chiến.
Năm 1951, Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm Cao cấp được chính thức thành lập tại Việt Bắc, do Giáo sư Lê Văn Thiêm trực tiếp làm Giám đốc (Hiệu trưởng). Đây chính là hai viên gạch nền móng đầu tiên của hệ thống Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp Hà Nội sau này.
Trong thiếu thốn tột cùng của chiến khu Việt Bắc, hình ảnh anh Lê Văn Thiêm mặc áo trấn thủ, chân đi dép cao su, thức trắng đêm bên ngọn đèn dầu để soạn giáo trình Toán học bằng tiếng Việt đã trở thành biểu tượng thiêng liêng đối với thế hệ chúng tôi. Anh không chỉ dạy chúng tôi tích phân, đạo hàm, mà dạy chúng tôi làm khoa học với tinh thần tự trọng của một dân tộc độc lập.
- GS. Hoàng Tụy (Trích hồi ký "Tâm sự của một nhà toán học", NXB Tri thức)
Dưới ngọn đèn dầu bão lập lòe trong lán nứa chiến khu, nhà toán học từng giải quyết bài toán ngược Nevanlinna lừng lẫy thế giới nay tỉ mẩn miệt mài viết từng trang giáo trình Giải tích, Đại số bằng tiếng Việt. Ông trực tiếp đứng lớp giảng dạy cho những khóa sinh viên đầu tiên như Nguyễn Đình Trí, Hoàng Tụy... – những người sau này trở thành những trụ cột không thể thay thế của nền toán học và giáo dục Việt Nam.
Ông không chỉ truyền thụ kiến thức toán học thuần túy, mà còn rèn luyện cho học trò một phương pháp tư duy khoa học nghiêm túc, tinh thần tự lực tự cường và lòng tự tôn dân tộc. Trong điều kiện thiếu thước kẻ, compa, ông dạy học trò dùng dây rừng và cành cây để vẽ các hình không gian trực quan ngay trên mặt đất.
Tầm nhìn chiến lược: Đào tạo và bảo tồn lực lượng cán bộ cho tương lai
Trong tầm nhìn chiến lược của Giáo sư Lê Văn Thiêm và lãnh đạo Đảng thời kỳ đó, cuộc kháng chiến chống Pháp nhất định sẽ thắng lợi, và khi hòa bình lập lại, đất nước sẽ cần một lực lượng rất lớn các kỹ sư, bác sĩ, nhà khoa học để kiến thiết quốc gia.
Do đó, nhiệm vụ đào tạo tại Trường Khoa học Cơ bản Việt Bắc không chỉ phục vụ cho nhu cầu cấp bách của chiến trường (như tính toán quỹ đạo đạn pháo, đo đạc địa hình, sản xuất hóa chất), mà còn mang sứ mệnh bảo tồn và phát triển nguồn nhân lực trí thức cho tương lai đất nước.

Năm 1953, khi cục diện chiến trường bước vào giai đoạn chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhiều học trò của ông được điều động ra mặt trận làm nhiệm vụ kỹ thuật, trong khi một bộ phận sinh viên xuất sắc được chuẩn bị để cử sang Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa học tập ngay sau khi chiến tranh kết thúc.
Đích thân Giáo sư Lê Văn Thiêm đã trực tiếp sát sao tuyển chọn, bồi dưỡng kiến thức nền tảng về Toán học và Ngoại ngữ cho những học sinh, sinh viên này. Chính lực lượng cán bộ do ông đào tạo trong rừng sâu Việt Bắc giai đoạn 1951–1954 đã trở thành lực lượng nòng cốt tiếp quản Đại học Hà Nội năm 1954 và xây dựng nên các Viện nghiên cứu khoa học lớn của quốc gia trong thập niên 1960.
Tiếp quản Thủ đô và xây dựng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1954 - 1956)
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Thủ đô Hà Nội hoàn toàn giải phóng. Giáo sư Lê Văn Thiêm cùng đoàn cán bộ giáo dục từ chiến khu Việt Bắc trở về tiếp quản cơ sở vật chất của Đại học Đông Dương cũ.

Tháng 6 năm 1956, Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức ra quyết định thành lập Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (ngôi trường tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội ngày nay) – trung tâm đào tạo khoa học cơ bản lớn nhất miền Bắc. Giáo sư Lê Văn Thiêm được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng (trực tiếp phụ trách toàn bộ công tác đào tạo và khoa học của nhà trường). Đồng thời, ông cũng giữ chức Trưởng khoa Toán - Lý đầu tiên.
Tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, Giáo sư Lê Văn Thiêm đã đặt ra những tiêu chuẩn học thuật cực kỳ nghiêm cẩn. Ông khẳng định: Muốn có một nền khoa học mạnh, trước hết phải có một nền giáo dục đại học đạt chuẩn quốc tế và một tinh thần trung thực tuyệt đối trong nghiên cứu.
Sự trở về của Giáo sư Lê Văn Thiêm năm 1949 không chỉ là sự bổ sung một nhà khoa học lớn cho kháng chiến, mà quan trọng hơn, ông đã đem theo ngọn lửa của tư duy khoa học hiện đại, lòng tự tin hàn lâm để thắp sáng cho nhiều thế hệ học trò Việt Nam trong những năm tháng gian khổ nhất.
Trích Kỷ yếu Lịch sử Giáo dục Đại học Việt Nam
Ông trực tiếp xây dựng chương trình đào tạo ngành Toán học, đưa các bộ môn hiện đại như Lý thuyết xác suất, Đại số đại cương, Giải tích chức năng vào giảng dạy, đồng thời duy trì việc giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt – một thành tựu ngôn ngữ khoa học kỳ diệu mà chính ông cùng các đồng nghiệp như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Giáo sư Đặng Thai Mai đã dày công xây dựng.
Lựa chọn từ bỏ tháp ngà tri thức Châu Âu năm 1949 của Giáo sư Lê Văn Thiêm đã trở thành một tấm gương sáng chói về nhân cách trí thức Việt Nam. Nếu ông ở lại Châu Âu, thế giới có thể đã có thêm nhiều công trình giải tích toán học mang tên ông. Nhưng khi trở về Tổ quốc, ông đã nhân bản tài năng của mình lên gấp hàng ngàn lần: tạo ra một cộng đồng toán học đông đảo, một hệ thống đại học vững mạnh và đặt nền móng cho nền khoa học độc lập của Việt Nam – sức mạnh giúp đất nước đứng vững qua các cuộc thử thách lịch sử.
(Còn tiếp)

