Kinh tế

Cuộc đua AI biến đổi thế giới trước khi dòng tiền cạn

Sơn Vân • 03/10/2026 19:35

Chưa từng có công nghệ mới nào thu hút lượng tiền khổng lồ như AI đang làm hiện nay. Dòng vốn đổ vào AI thậm chí vượt xa những khoản tiền từng được rót vào đường sắt hay Internet trong các cuộc cách mạng công nghệ trước đây.

Theo một dự báo của PwC, tổng chi tiêu trên toàn cầu riêng cho các trung tâm dữ liệu có thể vượt 30.000 tỉ USD vào năm 2050, gần tương đương tổng giá trị trái phiếu chính phủ Mỹ đang lưu hành. PwC cho rằng con số này vượt xa mức chi tiêu trong các cơn sốt đường sắt và dot-com (các công ty Internet cuối thập niên 1990), ngay cả khi đã điều chỉnh theo lạm phát.

PwC là một trong bốn công ty kiểm toán và dịch vụ chuyên nghiệp lớn nhất thế giới, thường gọi là nhóm Big 4, cùng với Deloitte, Ernst & Young và KPMG.

Trong khi đó, Anthropic - một trong những công ty lớn đang tham gia cuộc đua AI (trí tuệ nhân tạo) - có kế hoạch chi 518 tỉ USD những năm tới, theo hồ sơ IPO mà hãng tin Reuters tiếp cận. Con số này cao hơn 100 lần doanh thu của Anthropic trong năm 2025.

Những người hậu thuẫn AI cho rằng công nghệ này sẽ tạo ra sự thay đổi lớn hơn cả sự xuất hiện của động cơ hơi nước và quá trình công nghiệp hóa mà nó thúc đẩy.

Song phía sau những dự báo choáng ngợp, khoản chi khổng lồ của các công ty AI và mức định giá cao ngất ngưởng là hàng loạt giả định về việc năng suất sẽ tăng mạnh trên diện rộng và doanh nghiệp sẽ tạo ra khoản lợi nhuận khổng lồ trong tương lai. Các nhà kinh tế cho rằng đến nay vẫn có rất ít bằng chứng, cũng như tiền lệ lịch sử, đủ để chắc chắn rằng những kì vọng này sẽ trở thành hiện thực.

Cuộc đua AI biến đổi thế giới trước khi dòng tiền cạn
Dòng vốn đổ vào AI vượt xa những khoản tiền từng được rót vào đường sắt hay Internet trong các cuộc cách mạng công nghệ trước đây. Ảnh: Reuters

Mức tăng năng suất vẫn chưa xuất hiện rõ ràng

Ngân hàng JPMorgan Chase viết trong một báo cáo hồi tháng 8 rằng mức tăng năng suất trên diện rộng tại Mỹ - quốc gia đang dẫn đầu cuộc đua AI - "vẫn là điều khó nắm bắt". Điều đó làm dấy lên câu hỏi về tính bền vững của mức định giá các công ty AI.

Nghiên cứu của công ty tư vấn quản lý hàng đầu thế giới Bain & Company cho rằng mức tăng năng suất từ những thị trường hiện tại sẽ không đủ để bù đắp các khoản chi tiêu mà ngành AI đang bỏ ra. Theo nghiên cứu, “những thị trường hoàn toàn mới phải xuất hiện để lấp đầy khoảng thiếu hụt nguồn vốn”. Các thị trường đó có thể bao gồm cả những lĩnh vực như robot được AI điều khiển hoặc phát triển vật liệu mới cho pin và chất bán dẫn.

Bain & Company ước tính các công ty cung cấp hạ tầng điện toán quy mô lớn của Mỹ, như Google, Amazon và Microsoft, cùng những doanh nghiệp khác đang tham gia cuộc đua AI, sẽ cần tạo ra hơn 4.200 tỉ USD doanh thu mới trong 5 năm tới để có tiền tài trợ cho quá trình xây dựng hạ tầng.

“Nhiều câu hỏi đặt ra là liệu các ứng dụng AI có xuất hiện đủ nhanh để tạo ra doanh thu chi trả cho tất cả khoản đầu tư này hay không”, theo nghiên cứu được công bố hồi tháng 9.

Ít ai nghi ngờ tiềm năng của AI trong việc làm thay đổi mọi lĩnh vực, từ công việc văn phòng đến các phòng thí nghiệm nghiên cứu. Điều đó tương tự cách những cuộc cách mạng công nghệ trước đây giúp rút ngắn thời gian di chuyển từ nhiều ngày xuống còn vài giờ hoặc kết nối cả thế giới chỉ bằng vài thao tác trên bàn phím.

Tuy nhiên, một điều khó thay đổi hơn là bài toán lợi nhuận từ đầu tư và thời hạn phải hoàn trả các khoản vay. Đây là lý do các nhà kinh tế đang cố gắng tính toán những tác động của làn sóng đầu tư AI với nền kinh tế toàn cầu, vượt ra ngoài những thăng trầm thông thường của các chu kì đầu tư.

“Tiền lệ lịch sử cho thấy những thời kì bùng nổ do công nghệ thúc đẩy thường kết thúc khi việc xây dựng hạ tầng không còn tạo ra mức lợi nhuận đủ lớn”, JPMorgan Chase nhận định.

Lấy Nvidia làm ví dụ, JPMorgan Chase ước tính năng suất của Mỹ phải tăng 3 - 5% mỗi năm trong 10 năm tới mới đủ để biện minh cho mức định giá hiện nay của gã khổng lồ chip AI này. Nvidia cung cấp những chip tiên tiến nhất thế giới làm nền tảng cuộc cách mạng AI.

Đây là mức tăng đáng kể so với dự báo cơ sở của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ, vốn chỉ kì vọng mức tăng trưởng năng suất hàng năm là 1,75% trong cùng giai đoạn.

Riêng tại Mỹ, tổng vốn đầu tư có thể lên tới khoảng 9.000 tỉ USD trong giai đoạn 2025 - 2032. Con số này tương đương việc mỗi năm dành 3,2% GDP của Mỹ cho đầu tư AI, theo Stijn Van Nieuwerburgh - giáo sư kinh tế tại Trường Kinh doanh Columbia. Theo một số ước tính, Mỹ chiếm khoảng 3/4 tổng đầu tư AI toàn cầu.

Ông ước tính ngành AI Mỹ sẽ phải tạo ra khoảng 3.550 tỉ USD doanh thu mỗi năm vào 2032 để đạt tỉ suất sinh lời 10% trên vốn đầu tư. Hiện doanh thu của ngành chỉ bằng một phần nhỏ con số đó.

Việc phần lớn nguồn vốn vay để xây dựng hạ tầng AI sử dụng đòn bẩy tài chính cao cũng làm tăng rủi ro. Stijn Van Nieuwerburgh viết trong báo cáo hội nghị vào tháng 10 rằng “chỉ một sự suy giảm tương đối nhỏ về nhu cầu, sự trì hoãn hoặc sụt giảm giá trị tài sản cũng có thể tạo ra những khoản thua lỗ lớn hơn nhiều”.

AI và “tốc độ xuất hiện những kì tích mới”

Những con số khổng lồ nói trên vẫn không ngăn được các lãnh đạo AI tại Mỹ nói về tương lai với sự lạc quan gần như vượt khỏi thực tế hiện tại.

Dario Amodei (Giám đốc điều hành Anthropic) từng nói tương lai của AI có thể mang "vẻ đẹp tuyệt diệu vượt tầm tưởng tượng". Trong khi đó, Sam Altman (Giám đốc điều hành OpenAI) cho rằng “tốc độ xuất hiện những kì tích mới sẽ rất lớn” khi các mô hình AI học cách tự cải thiện và thúc đẩy các bước đột phá.

Cuộc đua AI biến đổi thế giới trước khi dòng tiền cạn
Sam Altman (trái) và Dario Amodei từng nói những viễn cảnh tươi sáng với AI. Ảnh: Getty Images

Jasjeet Sekhon, Giám đốc chiến lược tại Google DeepMind, phát biểu tại một hội nghị ở Đại học California - Berkeley (Mỹ) hồi tháng 8 rằng khả năng AI tự học và tự cải thiện, được gọi là “tự cải thiện đệ quy”, là “một phần then chốt trong luận điểm đầu tư vào AI”.

Theo ông, nếu đạt được khả năng này, AI có thể tạo ra mức tăng năng suất chưa từng có.

Tự cải thiện đệ quy có khả năng giúp AI tiến bộ theo cấp số nhân, nhưng đồng thời cũng làm dấy lên những lo ngại về các rủi ro mang tính sống còn với nhân loại.

Tuy nhiên, tốc độ thay đổi về năng suất vẫn có thể chậm hơn so với lộ trình thời gian mà các bộ phận kế toán doanh nghiệp yêu cầu.

Diane Coyle, nhà kinh tế học tại Đại học Cambridge (Anh), cho biết tác động đến năng suất của những công nghệ mang tính cách mạng trong quá khứ thường mất khoảng 10 - 50 năm mới thể hiện đầy đủ.

Nhóm kinh tế học của Anthropic đã xây dựng nhiều kịch bản để mô phỏng mức tăng trưởng bổ sung mà AI có thể mang lại vào năm 2030. Trong trường hợp không có AI, nhóm nghiên cứu giả định nền kinh tế tăng trưởng cơ bản 2% mỗi năm. Với tác động khiêm tốn từ AI, tăng trưởng có thể đạt 2,4%. Trong kịch bản AI tạo ra tác động lớn, con số này lên 5,4%. Với kịch bản tác động cực lớn, tăng trưởng có thể đạt 15,4%.

Anthropic cho biết tăng trưởng càng cao thì số việc làm bị thay thế càng nhiều, song nghiên cứu không gán xác suất cho từng kịch bản.

Năm ngoái, Dario Amodei dự báo AI có thể xóa sổ một nửa số việc làm văn phòng dành cho người mới vào nghề trong vòng 5 năm. Song hiện tại, một số nhà nghiên cứu cho rằng tác động này dường như chỉ giới hạn ở việc gây khó khăn hơn cho những người đang tìm kiếm công việc văn phòng.

Các nghiên cứu tại Mỹ và Anh đã chỉ ra sự sụt giảm trong tuyển dụng nhân sự mới cho vị trí văn phòng đảm nhận những công việc mà AI làm tốt, ngay cả khi tình hình việc làm tổng thể vẫn duy trì ở mức khả quan.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Stanford (Mỹ) cho biết tính đến tháng 6/2026, việc làm của lao động 22 - 25 tuổi trong những nghề chịu tác động mạnh từ AI, chẳng hạn kế toán và trợ lý pháp lý, thấp hơn 19% so với các công việc mà AI khó có thể thay thế, như nhân viên vệ sinh và công nhân xây dựng.

Giá trị kinh tế vẫn có thể tồn tại sau cơn sốt AI

Ngay cả khi sự chuyển đổi mà AI được kì vọng tạo ra mất nhiều thời gian hơn so với các con số mà các công ty AI đang đưa ra, những lợi ích kinh tế thực tế của công nghệ này vẫn có thể tồn tại.

Lịch sử từng cho thấy điều đó. Các đoàn tàu vẫn tiếp tục chạy sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1873 khiến các ông trùm đường sắt phá sản, hay việc Internet không hề biến mất sau khi bong bóng dot-com vỡ vào thập niên 1990.

“Lịch sử là người bạn hữu ích khi chúng ta cố gắng hiểu vấn đề này. Miễn là cuối cùng chúng ta vẫn còn lại cơ sở hạ tầng cần thiết để hỗ trợ những tác động về năng suất trong tương lai thì mọi chuyện vẫn ổn”, Diane Coyle nhận định.

Bong bóng dot-com là thời kì cổ phiếu các công ty Internet tăng giá quá nhanh vào cuối thập niên 1990, rồi lao dốc mạnh từ năm 2000 đến 2002, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản và nhà đầu tư mất hàng nghìn tỉ USD. Đây là một trong những ví dụ điển hình về việc kì vọng quá lớn vào công nghệ có thể khiến thị trường tài chính tăng trưởng vượt xa giá trị kinh doanh thực tế.

Sơn Vân