Quy hoạch sông Hồng: Tái thiết không gian & Động lực tăng trưởng xanhKì 1: Đưa Hà Nội 'quay mặt ra sông'
Trong suốt hàng thế kỷ, Hà Nội từng phải chọn thế “quay lưng” để phòng thủ trước những trận lũ lịch sử của dòng sông Mẹ. Và “Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng” mang tầm nhìn 100 năm đang chính thức đảo chiều: Đưa Thủ đô “quay mặt vào sông”, biến dải phù sa hơn 40 km thành trục động lực phát triển xanh, văn hóa và kinh tế tầm vóc quốc tế.
.png)
Tháng 9/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã có báo cáo Điều chỉnh tổng thể “Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng”, đưa Hà Nội chính thức “quay mặt vào sông”, biến dải phù sa huyết mạch thành trục động lực phát triển xanh, văn hóa, kinh tế và sinh thái hiện đại bậc nhất.
Tuy nhiên, hành trình kiến tạo “kì tích sông Hồng” sẽ phải đối mặt với không ít thách thức. Đó là bài toán thủy văn phức tạp cùng nguy cơ biến đổi khí hậu, đòi hỏi giải pháp trị thủy và thoát lũ tuyệt đối an toàn. Việc giải phóng mặt bằng, di dời và bố trí tái định cư cho hàng chục nghìn hộ dân ven sông cần sự đồng thuận cao và chính sách thấu đáo. Bên cạnh đó, áp lực huy động nguồn vốn khổng lồ, công tác quản lí quy hoạch đồng bộ và yêu cầu bảo tồn các giá trị văn hóa tín ngưỡng, sinh thái lịch sử đòi hỏi sự quyết tâm, bản lĩnh cùng năng lực quản trị vượt trội của chính quyền và cộng đồng.
Tạp chí Một Thế Giới trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc loạt bài:“Quy hoạch sông Hồng: Tái thiết không gian & Động lực tăng trưởng xanh”, phác họa toàn cảnh bức tranh quy hoạch tầm nhìn 100 năm và tiếng nói từ trái tim của những con người đang cùng Thủ đô kiến tạo tương lai.

Trong suốt hàng thế kỷ, Hà Nội từng phải chọn thế “quay lưng” để phòng thủ trước những trận lũ lịch sử của dòng sông Mẹ. Và “Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng” mang tầm nhìn 100 năm đang chính thức đảo chiều: Đưa Thủ đô “quay mặt vào sông”, biến dải phù sa hơn 40 km thành trục động lực phát triển xanh, văn hóa và kinh tế tầm vóc quốc tế.

Trong suốt hàng thế kỷ, dòng sông Hồng đóng vai trò như một mạch nguồn sinh dưỡng của văn minh lúa nước, nhưng cũng mang theo những ẩn số trị thủy khắc nghiệt với nhiều trận lũ lụt lịch sử. Phân tích về lý do lịch sử khiến Hà Nội từng phải chọn thế “quay lưng”, trao đổi với Một Thế Giới, nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến cho biết: “Lũ sông Hồng, sông Tô Lịch rất lớn. Từ đời Lý đến đời Trần, ‘Đại Việt sử ký toàn thư’ ghi chép rất nhiều lần ngập úng, có lần nước tràn vào cả sân kinh thành, dân cư phải đi lại bằng thuyền. Lũ lụt khiến dân khổ, thiếu ăn, mất mùa, đồng ruộng ngập, nên đời này qua đời khác, cha ông ta đã phải đắp nên hệ thống đê điều kiên cố. Việc ‘quay lưng ra sông’ khi đó là điều bắt buộc, vì mục tiêu tối thượng là trị thủy và an dân, bảo vệ kinh thành Thăng Long - Hà Nội”.
Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến, bên cạnh yếu tố trị thủy, an dân, thế “quay lưng ra sông” trong quy hoạch cổ còn mang chiều sâu phong thủy và căn tính môi trường. Các kinh đô, cung điện như điện Kính Thiên hay các công trình tâm linh xưa đều quay về hướng Đông hoặc Đông Nam để đón dương khí, đón gió mát mùa hè và tránh gió lạnh mùa đông. Với Thăng Long, sông Hồng vừa là long mạch, vừa là ‘thủy tổ’ - nơi tích tụ năng lượng đất trời theo triết lý “tụ thủy tụ nhân”. Tuy nhiên, bức tường đê bảo vệ ấy qua thời gian cũng vô hình trung biến vùng bãi sông thành một “vùng đệm” bị bỏ ngỏ, đẩy không gian đô thị lùi sâu vào vùng đất liền nội đô.
Bước vào kỷ nguyên mới, tư duy “quay lưng” phòng thủ ấy đã trở nên bất cập trước những áp lực nội tại của đô thị và đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn. Khu vực nội đô lịch sử của Hà Nội đang rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng về mật độ dân số, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và sự thiếu hụt trầm trọng các không gian xanh phục vụ cộng đồng. Trong khi đó, hàng ngàn ha đất bãi bồi ven sông Hồng - vốn sở hữu vị trí đắc địa ngay sát trung tâm - lại rơi vào kịch bản lãng phí kéo dài, với những khu dân cư cơi nới tự phát, kho bãi nhếch nhác và hạ tầng thiếu đồng bộ. Sự tương phản này buộc Hà Nội phải tìm kiếm một không gian phát triển mới.

Điều quan trọng nhất là, bản chất của dòng sông Hồng ngày nay đã thay đổi. Nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến phân tích: “Nhờ hệ thống các hồ chứa, đập thủy điện dày đặc ở thượng nguồn điều tiết nước, kết hợp cùng công nghệ chỉnh trị dòng chảy hiện đại, sông Hồng hiện nay rất khó bị lũ lụt trở lại. Dù thượng nguồn có mưa lớn xả lũ thì mực nước cũng không thể dâng cao mấp mé mặt đê như những trận lũ lịch sử năm 1971. Xác suất vỡ đê đã giảm xuống mức vô cùng thấp”.
Chính sự thay đổi mang tính nền tảng về mặt thủy văn này đã tạo ra thời điểm chín muồi lịch sử: Hà Nội không còn phải thụ động co mình sau lũy đê tránh lũ. Việc chuyển từ “quay lưng” sang “quay mặt vào sông” trở thành một yêu cầu tất yếu của thời đại. Tư duy quy hoạch cũng đã có bước tiến dài, chuyển từ "trị thủy phòng thủ" sang "thích ứng sinh thái thông minh", áp dụng mô hình ba thềm địa hình (thềm sát mép nước - mực nước cao độ dưới 9,5 m; thềm bãi trung gian - mực nước cao độ từ 9,5 m đến 11,5 m; thềm cao an toàn - mực nước cao độ trên 11,5 m) và đê lũ sinh thái.
“Thành phố hoàn toàn có thể giữ nguyên tuyến đê lịch sử từ thời Lý, Trần. Đê vừa là kỹ thuật, vừa là mồ hôi công sức của người Việt qua nhiều thế hệ, hoàn toàn có thể lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản; đồng thời mở thêm các hầm chui, cửa khẩu linh hoạt, làm các đập dâng giữ nước ngọt. Bởi nếu không thì nước ngọt từ thượng nguồn sẽ chảy thẳng ra biển, không còn nước tưới cho đồng bằng Bắc Bộ”, nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến bày tỏ quan điểm.


Bàn về công trình điểm nhấn và biểu tượng đô thị là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng, dưới góc nhìn của một nhà Hà Nội học, ông Nguyễn Ngọc Tiến nhìn nhận: “Tôi nghĩ lần quy hoạch này sẽ sửa chữa, khắc phục lại tất cả những khuyết điểm của các lần quy hoạch trước đây. Vấn đề quan trọng nhất là thực hiện quy hoạch như thế nào và quản lý, kiểm tra quy hoạch ra sao.
Đô thị nào trên thế giới cũng cố gắng có một hoặc nhiều biểu tượng. Pháp có tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn; Đức có cổng Brandenburg, Nhật Bản có Tháp Tokyo... Hà Nội cũng cần một biểu tượng, đó là điều chắc chắn. Nhưng có nên bắt chước các quốc gia khác lấy tòa nhà cao tầng làm biểu tượng hay không thì cần phải cân nhắc; hay chúng ta sẽ làm một công trình có giá trị kiến trúc, thẩm mỹ, mỹ thuật? Ví dụ New York, biểu tượng không chỉ là nhà cao tầng mà còn là công viên”.
Về giá trị lịch sử, văn hóa, ông Nguyễn Ngọc Tiến chọn cách nói trực diện, không lãng mạn hóa. Theo ông, phần lớn làng cổ ven sông đã bị bê tông hóa. Đường làng thành phố, ngõ làng thành hẻm ngách. Vì vậy, điều cần chú ý đặc biệt khi làm trục cảnh quan là ba công trình: Đình, chùa, đền. “Mất đình là mất làng. Giữ được đình là còn làng”, ông Tiến nhấn mạnh.
Ông Tiến đưa ra những lời giải cụ thể. Di tích nằm trên trục đường quy hoạch có thể được di dời sang khu vực bên cạnh. Hà Nội từng làm điều này khi người Pháp mở đường quanh Hồ Gươm và chuyển đình Nam Hương sang vị trí mới. Nếu cả một làng phải di chuyển 100%, thành phố có thể xây kèm đình, chùa, đền ở nơi ở mới.
“Nghĩa là tôi chuyển anh đi, nhưng tôi vẫn trả cho anh đình, đền, chùa đầy đủ. Người ta vẫn đến đó lễ chùa, thắp hương ngày mùng một, ngày rằm. Ngày hội làng người ta vẫn rước, vẫn có phần lễ, phần hội, vẫn có sự linh thiêng trong đó”, ông Tiến nói.
Dưới góc nhìn của một chuyên gia quy hoạch đô thị, TSKH. KTS Ngô Viết Nam Sơn, bày tỏ quan điểm với Một Thế Giới: “Việc xây một tòa tháp 109 tầng vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho Hà Nội. Nếulàm tốt, toà tháp sẽ tạo ra một điểm nhấn không gian mới và giúp phát triển đô thị ven sông, tăng giá trị của Thủ đô. Nhưng nếu làm không khéo thì nó sẽ “phá”, “tranh chấp” với không gian, cảnh quan lịch sử ngàn năm của Hà Nội. Và việc chọn vị trí cho toà tháp phải vô cùng thận trọng”.

Theo ông, Hà Nội là Thủ đô hơn nghìn năm tuổi, nên không thể san phẳng tất cả để làm mới, mà phải cân nhắc kĩ cái gì cần giữ, cái gì có thể thay. Những công trình di sản mang chức năng văn hóa, tâm linh như đình, đền, chùa ven sông cần phải đưa vào danh sách bảo tồn, kèm cơ chế để bảo vệ và phát huy.
KTS Ngô Viết Nam Sơn đề xuất chia Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng một nhiệm kỳ 5 năm. Làm khu nào thì phải xong dứt điểm khu đó, tránh tình trạng “đập phá xong rồi để đó, không làm gì hết”.

Để tìm hiểu rõ tâm tư của người dân xung quanh “Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng”, 14 giờ chiều một ngày cuối tháng 9, chúng tôi di chuyển hơn chục km từ trung tâm Hà Nội tới Đình Chèm (phường Đông Ngạc, Hà Nội). Dưới ánh nắng “xiên khoai” gay gắt, một nhóm người dân vẫn cặm cụi xịt rửa từng kẽ sân lát gạch đỏ mặt sân Đình Chèm.
“Chuẩn bị vinh danh con cháu trong làng vừa đỗ đại học đấy”, một ông lão giới thiệu là Long cho biết, vừa nói vừa rót trà.
Ngôi đình thờ Lý Ông Trọng, vị tướng mà tương truyền sống vào cuối thời Hùng Vương, là di tích quốc gia đặc biệt. Năm 1917, dân làng từng nâng cả bộ khung gỗ của đình lên cao 2,4 mét để tránh lũ sông Hồng, hoàn toàn bằng sức người.
“Cái đền này hơn 2000 năm rồi”, ông Long chia sẻ. Kiến trúc đền thay đổi thế nào qua ngần đó thời gian, không ai rõ nữa. Nhưng vị trí nhìn ra sông Hồng thì vẫn vậy. Hàng thế hệ con người theo đó tụ tập về đây sinh sống. Rồi làng ấp được lập nên. Người, cộng đồng có thể thay đổi, nhưng nếp sống ấy đã kéo dài nhiều đời, tất cả đều lấy ngôi đình này làm trung tâm.

Khi một siêu dự án sắp biến đổi vĩnh viễn không gian, nếp sống, bắt đầu được triển khai, cảm giác của người dân ven sông không tránh khỏi choáng ngợp. Ông Long nói về dự án bằng những câu hỏi nhiều hơn câu trả lời. Ông cho biết Bí thư Thành ủy đã về đây và nói ngắn gọn rằng cầu sẽ làm ở phía trên khu vực đình này.
"Nhưng mà liệu có làm được hay không? Nó có sướng hay là không sướng?", ông hỏi. Kế hoạch, tiến độ của dự án sẽ ra sao, ông không biết. "Dự án tôi có được xem đâu, chưa được nắm", ông bộc bạch. Vì vậy, ông Long dè dặt khi trò chuyện. Theo ông, muốn trả lời về dự án thì "phải có văn bản giấy tờ chính thức", chứ không thể "nói suông".
Xuôi về Tứ Liên (phường Hồng Hà), việc triển khai diễn ra quyết liệt hơn nhiều. Thay đổi từng ngày khi những nóc nhà san sát bên bờ đê nhường chỗ cho những cột trụ khổng lồ của cầu Tứ Liên. Nơi đây dự kiến sẽ có cầu, có đường sá mở rộng. Đáng chú ý nhất sẽ là Tháp Kỷ nguyên 109 tầng, biểu tượng mới của thủ đô thế kỷ XXI.
Nhưng đi cùng với thay đổi đó cũng có những băn khoăn. Cựu chiến binh, nghệ nhân Bùi Tăng Viêm (65 tuổi ở ngõ 28 Tứ Liên, phường Hồng Hà, Hà Nội) – người đã trồng khoảng 500 gốc quất trên bãi sông và gia đình ông đã sống ở làng qua 5 thế hệ - cho biết, đến nay các hộ mới chỉ biết thông tin quy hoạch tỉ lệ 1/5.000, chưa nhà nào nhận được quyết định gì.

Ông Viêm hình dung một con đường rộng hơn 73 mét chạy xuyên qua làng, "nhà cửa người ta đi hết". Lời hứa đền bù gấp đôi giá nhà nước, với ông, vẫn là một ẩn số: "60 triệu một mét, 80 triệu một mét, nhân đôi… cứ mù mờ, chưa rõ ràng là cái gì… Sau đợt sắp xếp địa giới hành chính gần đây nhất, đình Ngoại nằm trong đê thuộc phường Tây Hồ, nhưng vẫn do người gốc Tứ Liên thuộc phường Hồng Hà quản lý. Sau này, nếu Đình còn mà dân gốc đi hết thì ai là người tổ chức lễ hội? Ai ra làm ông thủ từ? Ai là trưởng ban quản lý đình?”.
Theo ông Viêm, một khu sinh thái du lịch không còn người cũ, người gốc làng kể chuyện sẽ trở thành “khu du lịch chết, không có hồn”. Ông lấy ngay nghề của mình làm ví dụ. Để uốn một cây quất thế, người trồng phải tính khe hở cho cành sen, con chim, mái đình trong chậu cảnh. Muốn quất ra hoa đúng Tết, tháng Ba âm lịch phải cắt cành, mỗi lứa lộc mất 50 ngày. “Cây không kể chuyện, chỉ có con người mới kể chuyện”, ông Viêm bộc bạch.

Thậm chí, nghề đóng thuyền gỗ của làng Tứ Liên đã mất từ lâu nhưng ông Viêm vẫn kể vanh vách cách các cụ xưa trát thuyền nan. Người ta lấy phân bò trộn với nhựa củ nâu mua ở chợ Bắc Qua, rồi dùng đế bàn tay miết vào khe nan cho nước khỏi ngấm. Ông còn nhắc chuyện năm 1947, dân làng dùng thuyền đưa Trung đoàn Thủ đô vượt sông Hồng an toàn lên chiến khu. Tới đầu những năm 2000, nơi đây vẫn còn những người dùng những chiếc thuyền nan truyền thống đó làm dịch vụ chở đò.
Nghĩa là, nghề đã mất, nhưng kí ức về nghề vẫn còn, và nó nằm trong những người như ông Viêm. Một chính sách bảo tồn chỉ đếm đình, chùa, đền sẽ bỏ sót phần di sản này. Vì thế, giữ lại một phần cộng đồng gốc tại chỗ không chỉ là chính sách an sinh, mà còn là chính sách văn hóa.

(Còn tiếp - Kì 2: Cơ sở khoa học thuỷ lực và bài toán ‘thích ứng lũ’)