Quy hoạch sông Hồng: Tái thiết không gian & Động lực tăng trưởng xanh Kì 2: Cơ sở khoa học thuỷ lợi và bài toán ‘thích ứng lũ’
Trong Đồ án “Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng”, việc tái thiết không gian bãi sông và bảo đảm an toàn cho các khu vực làng cổ là một trong những nội dung trọng tâm.



Trong khuôn khổ bài viết này, Một Thế Giới chọn Bát Tràng - một trong những làng nghề truyền thống lâu đời, nổi tiếng nhất của Hà Nội - để khảo sát.

Chia tay Đình Chèm (phường Đông Ngạc, Hà Nội), Tứ Liên (phường Hồng Hà, Hà Nội), nhóm phóng viên Một Thế Giới tới làng nghề truyền thống Bát Tràng. Điều người dân nơi đây tâm tư nhất là “những con số” trong quy hoạch sông Hồng cứ thay đổi liên tục.
Ông Nguyễn Văn Sơn, chủ một doanh nghiệp sản xuất gốm, cho biết: “Phương án đầu tiên lấy 80 mét tính từ chân đê. Sau đó, phương án thu lại còn khoảng 44,5 mét, đoạn phía trên Đông Dư lấy vào 54 mét. Qua cầu Thanh Trì khu Đ2 là khu “phòng khách đô thị” thì lấy vào gần 80 mét, lại thay đổi đi…”, ông bày tỏ sự thắc mắc nhưng vẫn tỏ ý ủng hộ chủ trương của TP.Hà Nội: “Đây là quy hoạch phải làm và theo tôi đáng ra cần làm lâu rồi, nhưng phải chờ tới thời điểm chín muồi như lúc này”. Lí do là đất bãi ngoài đê nhiều nhưng bao năm qua nhếch nhác, lãng phí, không tương xứng với hình ảnh Thủ đô:
“Từ Bát Tràng xuống Hạ Long đi ô tô chỉ mất tiếng rưỡi, nhưng đi vào nội thành có khi mất hàng giờ vì tắc đường kẹt xe. Nếu cứ giữ nguyên hiện trạng, tôi nghĩ chỉ 5 đến 10 năm nữa giao thông Hà Nội còn ‘kinh khủng’ hơn. Với quy hoạch mới, khi Bát Tràng có thêm những cây cầu và tuyến kè sông sẽ giúp du lịch, làng nghề phát triển hơn. Đây là một việc rất lớn của TP.Hà Nội, người dân chúng tôi thì nhỏ bé nên nếu nhà tôi có vào dự án, bị lấy thêm một ít đất thì cũng vui vẻ vì cái chung”.
Trong suy nghĩ của mình, ông Sơn mong tốc độ quy hoạch diễn ra nhanh hơn, để người dân sớm định hướng được công việc của mình: “Người dân sợ nhất là những dự án vẽ lên sơ đồ rồi để đấy, chết dân, dân không biết làm thế nào”, ông Sơn thẳng thắn nói.
Chia sẻ với suy nghĩ như ông Sơn, ông Lê Long (85 tuổi) hay bà Nguyễn Thị Thanh (chủ xưởng gốm xây dựng Thanh Hải) cũng tỏ ra đồng thuận về mặt chủ trương Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồngcủa UBND TP.Hà Nội. Nhưng thực tiễn sản xuất tại Bát Tràng vẫn đặt ra những bài toán sinh kế phức tạp.

Nghề làm gốm sứ có những đặc thù kỹ thuật vô cùng khắt khe về mặt bằng. Một xưởng gốm hoạt động bắt buộc phải có không gian rộng rãi để bố trí hệ thống lò nung (lò ga, lò điện), bể ngâm trộn đất sét, khu vực phơi sấy sản phẩm thô, kho chứa nguyên vật liệu và bãi đóng gói vận chuyển.
Do đó, các phương án đền bù di dời thuần túy bằng tiền mặt hoặc bố trí người dân vào sống tại các căn hộ chung cư cao tầng là hoàn toàn không phù hợp với đặc thù lao động làng nghề. Không thể đưa đất sét, lò nung hay sản phẩm gốm cồng kềnh lên các tầng cao chung cư để sản xuất. Việc thiếu hụt mặt bằng sản xuất sẽ dẫn đến nguy cơ gãy đổ chuỗi cung ứng, làm mai một nghề truyền thống và ảnh hưởng đến việc làm của hàng ngàn lao động địa phương cũng như lao động nhập cư.

Để giải quyết triệt để mâu thuẫn này, hài hòa giữa mục tiêu phát triển đô thị hiện đại và nhiệm vụ bảo tồn di sản làng nghề, hệ thống giải pháp tái thiết không gian Bát Tràng cần được triển khai đồng bộ theo các trụ cột sau:
Xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề tập trung "Xanh – Hiện đại"
Thành phố cần quy hoạch và dành riêng một quỹ đất sạch tại vùng cao trình an toàn (trên 11,5 m) ở khu vực phụ cận Bát Tràng để đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề tập trung. Cụm công nghiệp này sẽ là nơi tiếp nhận toàn bộ các xưởng sản xuất gốm sứ (như xưởng gốm xây dựng Thanh Hải) nằm trong vệt giải tỏa phục vụ Trục đại lộ cảnh quan.
Bảo tồn Khu vực lõi làng cổ Bát Tràng thành "Bảo tàng sống"
Khu vực lõi lịch sử của Bát Tràng – nơi chứa đựng các ngôi nhà cổ, ngõ gạch xỉ đặc trưng, các xưởng gốm lâu đời, Đình Bát Tràng và Văn Chỉ – phải được khoanh vùng bảo vệ nguyên trạng. Chính quyền cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật giúp người dân cải tạo nhà ở theo mô hình kiến trúc thích ứng với lũ.
Đồng thời, vệt đất giải tỏa ven sông Hồng sẽ được quy hoạch thành công viên cảnh quan gốm sứ ngoài trời, kết hợp xây dựng bến thuyền du lịch hiện đại. Bến thuyền này sẽ kết nối Bát Tràng vào tuyến du lịch đường thủy sông Hồng, cho phép du khách quốc tế và trong nước cập bến, tản bộ qua công viên cảnh quan để đi vào khám phá không gian làng cổ.

Minh bạch thông tin quy hoạch và thực hiện "GPMB linh hoạt"
Để loại bỏ tâm lý hoang mang, lo âu và giảm thiểu tình trạng đình trệ sản xuất do "quy hoạch treo", cơ quan quản lý cần niêm yết công khai bản vẽ chi tiết ranh giới giải phóng mặt bằng đến từng thửa đất. Tiến độ thực hiện dự án cần được ấn định rõ ràng, dứt điểm.
Khảo sát kỹ thuật chi tiết và thử nghiệm thực nghiệm
Trong giai đoạn thi công Trục đại lộ cảnh quan và các công trình kè bờ sông Hồng đi qua khu vực Bát Tràng, đơn vị thi công phải tiến hành khoan khảo sát địa chất chi tiết từng phân đoạn. Sử dụng các công nghệ thi công tiên tiến (như cọc ép thủy lực, tường vằn bê tông ngầm) để giảm thiểu tối đa chấn động nền đất, không làm ảnh hưởng đến kết cấu nền móng của các công trình kiến trúc cổ xung quanh.
Đặc biệt, tuân thủ đúng cam kết kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND TP.Hà Nội, trước khi phê duyệt dự án đầu tư và khởi công xây dựng, toàn bộ phương án quy hoạch kiến trúc và giải pháp thủy lực tại Bát Tràng bắt buộc phải được đưa vào thử nghiệm trên mô hình vật lý thu nhỏ trong phòng thí nghiệm. Việc đo đạc trực quan trên mô hình vật lý sẽ giúp kiểm chứng chính xác 100% các tác động dòng chảy, từ đó điều chỉnh thiết kế đạt độ an toàn tuyệt đối.

Dưới góc nhìn khoa học, GS. Lê Văn Nghị nhấn mạnh rằng mục tiêu tối thượng và xuyên suốt của đồ án là tuyệt đối tuân thủ các quy định của Luật Đê điều cũng như Quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình (Quy hoạch 257). Quy hoạch phải bảo đảm không làm gia tăng mực nước lũ thiết kế tại trạm thủy văn Long Biên (Hà Nội). Các mốc số liệu thủy văn bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt trong mọi mô hình tính toán bao gồm:
Mô hình lũ thiết kế / lũ lịch sử năm 1955: Bắt buộc giữ nguyên mực nước lũ khống chế tối đa tại trạm Long Biên là 13,4 m.
Mô hình lũ tần suất 3,5%: Mực nước lũ tại trạm Long Biên tuyệt đối không được vượt quá 13,1 m.

Hai ưu tiên hàng đầu được xác định rõ ràng, làm kim chỉ nam xuyên suốt toàn bộ quá trình tính toán, lập bản đồ phân vùng và thảo luận phương án quy hoạch là: Thứ nhất, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê điều sông Hồng - lá chắn bảo vệ toàn bộ không gian đô thị trung tâm Hà Nội; thứ hai, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản cho chính cư dân sinh sống trong khu đô thị bãi sông. Tất cả các mục tiêu phát triển kinh tế, đô thị hay du lịch đều phải xếp sau nhiệm vụ an ninh thủy lợi và an toàn đê điều.
Để mô phỏng chính xác diễn biến dòng chảy qua khu vực bãi sông và vùng làng cổ Bát Tràng, các chuyên gia hàng đầu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực học sông biển đã ứng dụng bộ phần mềm thương mại tiên tiến MIKE do Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) phát triển. Quá trình tính toán mô phỏng được thực hiện qua các cấp độ mô hình phức hợp:
Mô hình MIKE 11: Được sử dụng để tính toán thủy lực một chiều trên toàn bộ mạng lưới lòng sông chính. Mô hình này giúp xác định tổng thể lưu lượng, mực nước và sự phân bố dòng chảy theo chiều dọc của toàn hệ thống sông Hồng.
Mô hình MIKE 21: Được ứng dụng để tính toán thủy lực hai chiều chi tiết trên vùng bãi sông. Mô hình này cho phép phân tích sâu về sự phân bố không gian của vận tốc dòng chảy, xác định chính xác các khu vực cản lũ, các vùng xuất hiện xoáy lốc, cũng như phân định rõ ràng những vùng có vận tốc dòng chảy lớn hoặc nhỏ khi lũ về.
Nhằm bảo đảm tính khách quan hai chiều và độ tin cậy tối đa cho các kết quả tính toán, đơn vị tư vấn quốc tế Hà Lan (Deltares) đã được mời tham gia tính toán và phản biện độc lập. Đơn vị Deltares đã sử dụng song song bộ công cụ MIKE và mô hình Delft3D (mô hình thủy lực chuyên sâu do chính Deltares nghiên cứu phát triển) để mô phỏng sự tương tác giữa dòng chảy, quá trình biến đổi lòng dẫn (xói lở và bồi lắng) cùng sự phân bố mực nước lũ trên toàn tuyến sông. Kết quả tính toán từ hai đơn vị tư vấn độc lập này giúp chính quyền thành phố Hà Nội, các bộ ngành liên quan và nhà đầu tư có đầy đủ cơ sở khoa học toàn diện để so sánh, đối chiếu và lựa chọn phương án quy hoạch an toàn nhất.
Tuy nhiên, GS. Lê Văn Nghị lưu ý rằng hiện tại các kết quả đánh giá kỹ thuật mới chỉ dừng lại ở bước chạy mô hình toán trên máy tính. Ở các bước thiết kế chi tiết tiếp theo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP.Hà Nội cùng nhà đầu tư đã đi đến thống nhất bắt buộc: Sẽ tiến hành xây dựng một mô hình vật lý tỉ lệ lớn trong phòng thí nghiệm chuyên ngành. Mô hình vật lý đắp thu nhỏ này sẽ trực quan hóa toàn bộ dòng chảy bằng thực nghiệm, cho phép đo đạc trực tiếp các thông số thủy lực và kiểm chứng chính xác các tác động của công trình trước khi cấp phép khởi công xây dựng thực tế.
Đặc biệt, sự cố thiên tai từ trận bão Yagi vào tháng 9/2024 vừa qua đã cung cấp một nguồn dữ liệu thực tế vô cùng giá trị. Hệ thống hình ảnh, video ghi nhận từ flycam, cùng chuỗi dữ liệu đo đạc thực địa về mực nước và phạm vi ngập úng trong trận lũ 2024 đã được đưa vào hệ thống máy tính để hiệu chỉnh mô hình. Nhờ đó, các chuyên gia có thể tái hiện lại chính xác diễn biến dòng chảy thực tế, nâng cao độ tin cậy cho các dự báo thủy lực tương lai.

Trong thời gian qua, có nhiều thông tin dư luận xung quanh quy hoạch đề xuất diện tích xây dựng và tôn cao khoảng 3.900 ha bãi sông để xây dựng đô thị. Trả lời về vấn đề này, GS. Lê Văn Nghị đã đính chính và làm rõ bản chất của đồ án. Thực chất, không có việc tôn cao đồng loạt toàn bộ 3.900 ha bãi sông. Đồ án chỉ đang nghiên cứu khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất 3.900 ha bãi sông hiện có để phục vụ các mục tiêu phát triển không gian đô thị, công viên cảnh quan và hạ tầng kỹ thuật.
Luật Đê điều và Quy hoạch 257 đã quy định rất rõ ràng: Nghiêm cấm mọi hành vi tự ý nâng cao, san nền trên toàn bộ diện tích bãi sông, vì việc này sẽ làm co hẹp không gian thoát lũ, nâng cao mực nước lũ thượng lưu và gây nguy hiểm cho hệ thống đê điều. Quy hoạch trong đồ án phải tuân thủ nghiêm ngặt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng (QCVN 01):
Tại các vùng bãi sông có vận tốc dòng chảy rất nhỏ: Chỉ dao động trong khoảng từ 0,1 m/s đến 0,2 m/s, nằm sát chân đê hoặc ở các vùng bãi rộng tĩnh nước, quy hoạch có thể xem xét cho phép đắp cao nền cục bộ để bố trí các công trình hạ tầng an toàn.
Tại các vùng bãi sông có vận tốc dòng chảy lớn: Thuộc dải thoát lũ chính, quy hoạch bắt buộc phải tiến hành đào bớt đất, hạ thấp địa hình để tăng cường không gian lưu chứa và mở rộng năng lực dẫn lũ của lòng sông.
Định hướng cốt lõi và tiên tiến nhất của đồ án là quy hoạch toàn bộ vùng bãi sông Hồng thành mô hình Tầng bậc thoát lũ thích ứng. Hệ thống không gian này được chia thành các vùng chức năng linh hoạt dựa trên đặc tính thủy văn:
Lòng dẫn mùa kiệt: Vùng thân dẫn chính của dòng sông, đảm bảo lưu thông nước và giao thông thủy quanh năm.
Vùng thoát lũ thường xuyên / Vùng bán ngập: Mức thềm địa hình thấp sát lòng sông, chấp nhận ngập nước khi có lũ vừa và lớn, được định hướng phát triển công viên cây xanh, bãi cảnh quan và hạ tầng du lịch sinh thái.
Vùng ngập nông hoặc ngập ít: Mức thềm địa hình cao sát chân đê, có mức độ an toàn cao, dành cho bảo tồn di sản, xây dựng khu tái định cư tập trung và các công trình cộng đồng.
Mô hình phân bậc thích ứng này đã được áp dụng rất thành công tại nhiều đại đô thị ven sông lớn trên thế giới, điển hình như thành phố Vũ Hán trên sông Trường Giang (Trung Quốc) hay thành phố Volgograd trên sông Volga (Nga). Đây là giải pháp văn minh giúp con người chủ động nhường không gian cho nước lũ thay vì đối đầu gượng ép với thiên nhiên.
.png)

Một thực tế quan trọng được GS. Lê Văn Nghị chỉ ra là diễn biến biến đổi địa hình lòng dẫn sông Hồng trong những năm gần đây. Giai đoạn từ năm 2018–2019 đến nay ghi nhận hiện tượng xói lở và hạ thấp đáy sông Hồng diễn ra rất mạnh mẽ trên toàn tuyến.
Khi cập nhật các số liệu địa hình lòng dẫn thực tế mới nhất vào mô hình tính toán thủy lực, kết quả cho thấy một hiện tượng đáng chú ý: Cùng với một lưu lượng lũ thiết kế như nhau, mực nước lũ thực tế đo được tại trạm Long Biên hiện nay đã hạ thấp từ 0,8 m đến 1,4 m so với mốc địa hình năm 2012 (thời điểm lập Quy hoạch 257). Minh chứng thực tế là trong trận lũ do bão Yagi năm 2024, mặc dù lưu lượng nước lũ đổ về từ trạm Sơn Tây lớn hơn trận lũ lịch sử năm 1996, nhưng mức độ ngập lụt tại khu vực đô thị Hà Nội lại ít hơn đáng kể. Nguyên nhân chính là do lòng sông đã bị hạ thấp, giúp khả năng thoát nước nhanh hơn.

Tuy nhiên, quan điểm nhất quán của các chuyên gia thủy lợi và cơ quan quản lý là tuyệt đối không được chủ quan. Ngành thủy lợi không chấp nhận lấy sự hạ thấp lòng dẫn mang tính ngắn hạn hay cục bộ để đánh đổi cho sự an toàn của một bản quy hoạch đô thị có tầm nhìn hàng trăm năm. Lòng sông có thể biến động phức tạp, bồi lắng trở lại do sự điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn hoặc các yếu tố tự nhiên khác. Do đó, bài toán thủy lực thiết kế vẫn phải giữ nguyên các mốc khống chế mực nước lũ lịch sử khắt khe nhất làm thước đo an toàn bắt buộc.
Bên cạnh đó, GS. Lê Văn Nghị cũng phân tích toàn diện về năng lực tiêu thoát nước tổng thể của thành phố Hà Nội. Hệ thống hạ tầng thoát nước hiện tại của khu vực nội thành về cơ bản đáp ứng tốt đối với các trận mưa có lượng mưa dưới 100 mm, nhờ vào việc các trạm bơm đầu mối vận hành liên tục và mực nước sông Hồng hạ thấp giúp nước mưa tiêu tự chảy dễ dàng. Tuy nhiên, khi gặp các trận mưa cực đoan vượt quá 100 mm, hệ thống vẫn rơi vào tình trạng quá tải cục bộ, đòi hỏi thành phố phải tiếp tục đầu tư mở rộng hạ tầng.
Đối với hệ thống sông Đáy, tình trạng ngập lụt kéo dài tại một số khu vực ven sông trong đợt mưa lũ vừa qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân lịch sử: Lòng sông quá hẹp, bị người dân lấn chiếm xây dựng tự phát qua nhiều thập kỷ, lòng dẫn bị co hẹp nghiêm trọng tại các vị trí cầu dân sinh, và khả năng tiêu thoát ra biển bị hạn chế. Để giải quyết triệt để bài toán ngập lụt sông Đáy, không thể áp dụng các giải pháp đơn lẻ mà cần một quy hoạch tổng thể liên vùng (kết nối Hà Nội, Hà Nam và Ninh Bình), kết hợp đồng bộ giữa giải tỏa hành lang lòng sông, nạo vét thông thoáng dòng chảy và xây dựng các trạm bơm tiêu chủ động công suất lớn.


Đối với các làng cổ và công trình di tích lịch sử nằm dọc ven sông Hồng như Bát Tràng, một câu hỏi khoa học lớn được đặt ra: Làm thế nào để bảo vệ các khu vực này trước nguy cơ tàn phá của nước lũ? Kết quả quan sát thực địa và mô phỏng thủy lực trên mô hình hai chiều đã chỉ ra cơ chế vận động dòng chảy rất đặc thù tại đây.
Khi lũ lớn dâng cao tràn qua bờ sông, nước tràn vào khu vực làng cổ Bát Tràng chủ yếu dưới dạng "chứa tĩnh". Do nằm ở vùng bãi rộng và có các đặc điểm địa hình tự nhiên che chắn, vận tốc dòng chảy tại khu vực làng cổ cực kì nhỏ, chỉ dao động trong khoảng từ 0,1 m/s đến 0,2 m/s, thậm chí ở nhiều vị trí vận tốc gần như bằng 0 m/s. Nước lũ dâng lên tạo thành các vùng ngập đọng yên tĩnh chứ không tạo ra dòng xiết. Nhờ cơ chế chứa tĩnh này, nước lũ không sinh ra lực xói lở cơ học nguy hiểm, không làm sụt lún nền đất hay phá hủy kết cấu kiến trúc của các ngôi nhà cổ và xưởng gốm truyền thống.
Xét về đặc điểm địa chất, vùng bãi sông Hồng được hình thành chủ yếu từ đất cát và phù sa bồi đắp. Đồ án quy hoạch đã tiến hành phân loại địa chất chi tiết thành hai khu vực rõ rệt:
Vùng "Bãi già": Là những dải đất bồi lâu đời, có nền địa chất đã nén chặt và ổn định qua hàng trăm năm, chịu lực tốt. Khu vực làng cổ Bát Tràng hiện hữu nằm trọn trên nền bãi già này. Đây là cơ sở khoa học cho phép định hướng tiếp tục bảo tồn, cải tạo và xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ dân sinh sát chân đê mà không lo ngại rủi ro sụt lún quy mô lớn.
Vùng "Bãi trẻ": Là dải đất phù sa mới bồi tích sát mép sông, kết cấu đất lỏng lẻo, rất dễ bị biến động và xói lở khi dòng chảy thay đổi. Vùng này tuyệt đối không bố trí các công trình xây dựng kiên cố, mà chỉ dành toàn bộ cho cây xanh, công viên sinh thái và không gian mở.

Đối với Tuyến đại lộ cảnh quan dài hơn 40 km dự kiến chạy dọc hai bên bờ sông Hồng, việc xây dựng một công trình giao thông quy mô lớn trên bãi sông chắc chắn sẽ có những tác động nhất định đến sự phân bố dòng chảy. Tuy nhiên, các tính toán thủy lực đã đưa ra giải pháp thiết kế linh hoạt:
Khi xuất hiện đỉnh lũ thiết kế (lũ lớn), mặt đường đại lộ sẽ chấp nhận bị ngập dưới nước lũ từ 1 m đến 3 m. Nguyên nhân là do cao trình mặt đường được khống chế thiết kế nằm dưới mức báo động 2 hoặc báo động 3. Việc chấp nhận cho nước lũ tràn qua mặt đường giúp đại lộ không biến thành một bức tường cản lũ vô hình, bảo đảm giữ nguyên không gian thoát lũ của dòng sông. Tuyến đại lộ chỉ có tác dụng cản dòng nhẹ khi xuất hiện các đợt lũ nhỏ dưới mức thiết kế, và hoàn toàn bảo đảm không làm gia tăng mực nước lũ thiết kế tại trạm Long Biên.
Để xử lý hiện tượng phân chia lại vùng vận tốc trên bãi sông khi có đường giao thông, đồ án tích hợp hệ thống công trình chỉnh trị đồng bộ. Các giải pháp như gia cố kè bờ bằng kết cấu chịu lực linh hoạt, kết hợp nạo vét mở rộng lòng dẫn tại các đoạn uốn cong sẽ được triển khai tại những vị trí có vận tốc dòng chảy lớn, loại bỏ hoàn toàn nguy cơ xói lở bờ sông.
Khuyến cáo kỹ thuật quan trọng nhất và mang tính kết luận từ GS. Lê Văn Nghị là: Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mục tiêu ưu tiên số 1 của đồ án luôn phải là bảo vệ an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê sông Hồng và giữ gìn sự ổn định của lòng dẫn; mọi giải pháp quy hoạch phát triển đô thị, thương mại hay giao thông đều phải xếp sau và tuân thủ triệt để các yêu cầu về an toàn đê điều và tiêu thoát lũ.
Khi các căn cứ khoa học thủy lực được áp dụng một cách nghiêm túc, kết hợp với các chính sách an sinh xã hội nhân văn và sự đồng thuận của nhân dân, Bát Tràng sẽ không chỉ giữ vẹn nguyên được "hồn cốt" di sản hàng trăm năm mà còn vươn mình trở thành một đô thị di sản sinh thái thích ứng bền vững bên dòng sông Hồng.
(Còn tiếp - Kì 3: Giữa Seoul và Thượng Hải: Hai chuyến đi, hai dòng sông, và những gì sông Hồng có thể học)