Nông nghiệp thông minh phục vụ xuất khẩu: Phải 'thông minh' về thị trường
Quản trị thông minh, kiểm soát an toàn thực phẩm toàn chuỗi giúp nông, thủy sản Việt Nam đáp ứng thị trường xuất khẩu.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên trao đổi với TS. Ngô Xuân Nam, Phó giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Thưa TS, từ những quy định mới của Trung Quốc, có thể nhìn nhận yêu cầu đối với nông nghiệp thông minh phục vụ xuất khẩu như thế nào?
- TS. Ngô Xuân Nam: Nông nghiệp thông minh phục vụ xuất khẩu cần được nhìn theo toàn bộ chuỗi, từ vùng nguyên liệu, sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói, chế biến đến bảo quản và xuất khẩu. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi giúp doanh nghiệp kiểm soát được an toàn thực phẩm, minh bạch thông tin và chứng minh quá trình tuân thủ.

Nghị định số 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), có hiệu lực từ ngày 1/6/2026, thay thế Nghị định số 248, thể hiện rõ cách quản lí dựa trên đánh giá rủi ro, đồng thời tiến hành đánh giá hệ thống quản lí an toàn thực phẩm và tình trạng an toàn thực phẩm của doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nhập khẩu ở nước ngoài. Phương thức, hồ sơ và quy trình đăng kí doanh nghiệp được xác định căn cứ hệ thống an toàn thực phẩm quốc gia và mức độ rủi ro của sản phẩm…
Từ những yêu cầu trên, đòi hỏi nông nghiệp thông minh phục vụ xuất khẩu cần nhìn nhận xuyên suốt, phải “thông minh” về thị trường: theo yêu cầu của thị trường ra sao?, về sản xuất: quy trình sản xuất như thế nào?, chất lượng: kiểm soát dư lượng, vi sinh, dịch bệnh như thế nào?, về dữ liệu: nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu ra sao?...
- Với nông, thủy sản Việt Nam, những rủi ro nào cần được kiểm soát chặt ngay từ khâu sản xuất?

- TS. Ngô Xuân Nam: Mỗi nhóm hàng có đặc điểm rủi ro khác nhau nên hệ thống quản lí phải kiểm soát chặt các mối nguy. Theo tài liệu đánh giá rủi ro của phía Trung Quốc, gạo có nguy cơ liên quan sinh vật gây hại, an toàn thực phẩm, dư lượng kim loại nặng như cadimi và gạo biến đổi gen. Rau, củ sấy khô có nguy cơ sulfur dioxide, phụ gia vượt mức và kim loại nặng. Các loại hạt, hạt giống có rủi ro an toàn thực phẩm và nguy cơ lây lan dịch hại.
Đối với thủy sản, các nội dung cần chú ý gồm dịch bệnh động vật thủy sản, chỉ tiêu chất lượng, tính hợp lệ của chứng thư, chất ô nhiễm, ghi nhãn, dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật và kí sinh trùng. Vì vậy, ứng dụng công nghệ phải hướng đến phát hiện, cảnh báo và kiểm soát các nguy cơ này trong toàn chuỗi.
- Nghị định 280 tạo thuận lợi và đặt ra những yêu cầu gì mới đối với doanh nghiệp Việt Nam?
- TS. Ngô Xuân Nam: Một thuận lợi là GACC đã thông báo Nghị định 280 không ảnh hưởng đến doanh nghiệp đã được cấp mã đăng kí còn hiệu lực. Đa số nhóm sản phẩm được áp dụng cơ chế tự động gia hạn đăng kí 5 năm, trừ một số nhóm như thịt và tổ yến. Với sản phẩm đã có thỏa thuận riêng giữa hai bên, chẳng hạn thủy sản, trái cây tươi đã kí Nghị định thư hoặc thỏa thuận, việc thực hiện theo nội dung song phương.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên vì vậy mà chủ quan. GACC chưa công bố đầy đủ phương thức đăng kí, hồ sơ, quy trình xem xét tương ứng theo Điều 5, cũng như điều kiện để hệ thống quản lí an toàn thực phẩm của một quốc gia được công nhận nhằm áp dụng đăng kí theo danh sách tại Điều 17. Văn phòng SPS Việt Nam sẽ cập nhật thông tin tới những cơ quan thẩm quyền, địa phương và hiệp hội ngành hàng khi nhận được thông tin từ GACC.
Thông báo số 219 năm 2025 còn công bố 20 nhóm với 2.589 sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu phải có thư khuyến nghị chính thức khi đăng kí doanh nghiệp xuất khẩu sang Trung Quốc. Khi khai báo, thông tin mã đăng kí phải đầy đủ, chính xác cho từng doanh nghiệp và từng mặt hàng.
- Theo TS, doanh nghiệp và hợp tác xã cần làm gì để xây dựng chuỗi xuất khẩu thông minh, bền vững?

- TS. Ngô Xuân Nam: Trước hết phải nghiên cứu kĩ Nghị định 280 và các thông báo liên quan để xác định mặt hàng thuộc diện đăng kí qua cơ quan có thẩm quyền hay doanh nghiệp tự đăng kí. Hồ sơ cần chuẩn bị đầy đủ theo biểu mẫu, sử dụng tiếng Anh hoặc tiếng Trung theo yêu cầu, kê khai chính xác thông tin và địa chỉ.
Tùy mặt hàng, doanh nghiệp phải đồng thời tuân thủ quy định an toàn thực phẩm của Việt Nam, quy định của thị trường nhập khẩu, các nghị định thư hoặc thỏa thuận giữa Việt Nam và GACC, cùng những quy định liên quan.
Trước khi xuất khẩu, doanh nghiệp cần kiểm tra hiệu lực mã đăng kí, xem mã còn hiệu lực hay đang bị tạm dừng, đình chỉ. Đồng thời, phải chủ động cập nhật các thông báo dự thảo và quy định SPS có thể ảnh hưởng hoạt động xuất khẩu trên website Văn phòng SPS Việt Nam.
- Như vậy, yếu tố cốt lõi để nông nghiệp thông minh thực sự nâng sức cạnh tranh xuất khẩu là gì, thưa TS?
- TS. Ngô Xuân Nam: Cốt lõi là biến yêu cầu thị trường thành tiêu chuẩn quản trị ngay trong chuỗi sản xuất. Nếu dữ liệu vùng nguyên liệu, an toàn thực phẩm, mã cơ sở, hồ sơ đăng kí và truy xuất được quản lí đồng bộ, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trước thay đổi của thị trường.
Đối với nhóm sản phẩm có nguồn gốc thực vật như gạo, trái cây sấy, hạt, doanh nghiệp phải đăng kí trên hệ thống CIFER và thực hiện đăng kí thông qua cơ quan chuyên ngành đối với trường hợp thuộc diện yêu cầu. Với thủy sản, yêu cầu quản lí càng cho thấy cần kiểm soát chặt từ nuôi, thu hoạch đến chế biến, chứng thư và bảo quản.
Nông nghiệp thông minh vì vậy không nên dừng ở cảm biến, tự động hóa hay phần mềm. Mục tiêu cuối cùng phải là tạo ra sản phẩm an toàn, hồ sơ minh bạch, dữ liệu đáng tin cậy và khả năng đáp ứng nhanh quy định SPS. Đó là điều kiện để giảm rủi ro và giữ ổn định thị trường. Khi từng mắt xích cùng tuân thủ, nông, thủy sản Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc hơn để duy trì thị trường và phát triển xuất khẩu bền vững lâu dài hơn.