AI

Trí tuệ nhân tạo tự ra quyết định: Việt Nam ứng phó ra sao?

Nam Phong • 06/10/2026 12:09

Trước các sự cố trí tuệ nhân tạo tự ra quyết định và nguy cơ mất kiểm soát, Việt Nam đã chủ động ban hành hành lang pháp lý nhằm bảo đảm an toàn.

Thời gian gần đây, cộng đồng công nghệ toàn cầu liên tục ghi nhận những cảnh báo nghiêm trọng liên quan đến sự bứt phá quá nhanh của các mô hình trí tuệ nhân tạo tiên tiến. Khác với các thuật toán truyền thống chỉ thực hiện lệnh theo lập trình sẵn, các mô hình mới, đặc biệt là tác tử AI đang thể hiện năng lực tự chủ ngày càng cao: tự thiết lập chuỗi nhiệm vụ, tự chọn công cụ thực thi và thậm chí có những hành vi lệch khỏi mục tiêu ban đầu của con người.

trí tuệ nhân tạo tự ra quyết định vượt quyền kiểm soát
AI tự ra quyết định vượt quyền kiểm soát của con người đang đặt ra hàng loạt bài toán cấp bách. Ảnh minh hoạ

Thực tế này đặt ra bài toán cấp bách cho tất cả các quốc gia: Làm thế nào để vừa tận dụng tối đa tiềm năng đổi mới sáng tạo, tăng trưởng kinh tế từ công nghệ mới, vừa duy trì sự kiểm soát tuyệt đối của con người để bảo đảm an toàn xã hội? Trước bối cảnh đó, Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia cùng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) đã có những chia sẻ với Một Thế Giới, cung cấp góc nhìn toàn diện và giải pháp cụ thể của Việt Nam.

Nhìn nhận rủi ro từ các sự cố trí tuệ nhân tạo mất kiểm soát

Theo đánh giá của Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia, đánh giá về những diễn biến quốc tế gần đây, xuất hiện những rủi ro mới rất đáng quan tâm ở các hệ thống tiên tiến, nhưng không thể từ một sự cố cụ thể kết luận rằng công nghệ nói chung đã vượt khỏi sự kiểm soát của con người.

Cụ thể, trong các đợt đánh giá an ninh mạng nội bộ tháng 7/2026, một mô hình nghiên cứu của OpenAI đã vượt qua biện pháp cô lập, liên lạc qua kênh không được phép, truy cập Internet và xâm nhập một phần hạ tầng nghiên cứu của OpenAI cũng như hệ thống của Hugging Face. Mặc dù hoạt động này chủ yếu do một mô hình nghiên cứu chỉ sử dụng nội bộ thực hiện trong điều kiện biện pháp bảo vệ được giảm bớt để đánh giá và không ảnh hưởng đến dữ liệu khách hàng hay hoạt động sản phẩm, đây vẫn là hành vi lệch khỏi mục tiêu được giao và là cảnh báo nghiêm túc về năng lực của các hệ thống tiên tiến khi thiếu biện pháp bảo vệ phù hợp.

Trước các rủi ro phát sinh, ngày 12/9/2026, CEO Anthropic Dario Amodei đề xuất điều chỉnh nhịp độ phát triển các mô hình tiên phong để công tác bảo đảm an toàn, đánh giá độc lập và quản trị kịp theo năng lực của mô hình, đồng thời khẳng định đề xuất này không có nghĩa là ngừng huấn luyện hay ngừng tiến bộ kỹ thuật. Ngày 16/9/2026, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen đề cập hợp tác quốc tế về đánh giá, kiểm chứng, cảnh báo sớm và an ninh công nghệ, khẳng định châu Âu cần tiếp tục tham gia cuộc đua công nghệ và đưa ứng dụng vào nền kinh tế thực. Đến ngày 22/9/2026, OpenAI công bố chủ trương tăng cường đánh giá độc lập bởi bên thứ ba với khả năng tiếp cận sâu hơn vào quá trình huấn luyện và triển khai. Điểm chung của các thông điệp này là tiếp tục khai thác lợi ích của công nghệ, song nâng năng lực an toàn và quản trị tương ứng với rủi ro.

Khung pháp lý toàn diện bảo vệ an toàn và giữ vững vai trò con người

ong-tran-anh-tu-pho-cuc-truong-cuc-cns-ai(1).jpg
ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo. Ảnh: NP

Trao đổi với Một Thế Giới, ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo cho biết, nhằm ứng phó hiệu quả với thách thức, Việt Nam lựa chọn cách tiếp cận cân bằng thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/3/2026) và Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia kèm theo Thông tư số 05/2026/TT-BKHCN (có hiệu lực từ ngày 10/3/2026). Hành lang pháp lý này tập trung vào bốn nội dung then chốt:

Thứ nhất, Luật xác định nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, phục vụ con người, bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, lợi ích quốc gia và an ninh quốc gia. Hệ thống có thể ngày càng tự chủ về kỹ thuật, nhưng trách nhiệm pháp lý không chuyển sang máy móc. Máy móc không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người. Khoản 4 Điều 7 của Luật nghiêm cấm việc cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế để con người giám sát, can thiệp vào hệ thống.

Thứ hai, Luật thực hiện quản lý theo mức độ rủi ro quy định tại Điều 9 và Điều 10, cụ thể hóa qua Nghị định số 142/2026/NĐ-CP để không đánh giá trùng lặp với pháp luật chuyên ngành. Nhà cung cấp tự phân loại hệ thống thành ba mức cao, trung bình và thấp. Hệ thống rủi ro cao phải được đánh giá sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng, duy trì quản lý rủi ro, chất lượng dữ liệu, hồ sơ kỹ thuật, nhật ký hoạt động và cơ chế can thiệp của con người. Hệ thống rủi ro thấp được theo dõi phù hợp nhằm tránh phát sinh nghĩa vụ không cần thiết cho doanh nghiệp.

Thứ ba, Luật thiết lập cơ chế phát hiện, báo cáo và xử lý sự cố nghiêm trọng tại Điều 12. Nhà phát triển và nhà cung cấp phải áp dụng biện pháp khắc phục, tạm dừng hoặc thu hồi khi cần; cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu tạm dừng, thu hồi hoặc đánh giá lại. Điều 8 của Luật quy định vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo để tiếp nhận thông tin phân loại, kết quả đánh giá, báo cáo sự cố và phục vụ công tác giám sát.

Thứ tư, Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia quy định an toàn ngay từ thiết kế, bảo đảm độ tin cậy và không gây hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người. Khung hướng dẫn kiểm thử trước triển khai, bảo vệ dữ liệu, phương án ứng phó với các rủi ro chiếm quyền điều khiển, đầu độc dữ liệu, đầu độc mô hình, tấn công đối nghịch và khai thác lỗ hổng. Theo Điều 5 của Thông tư 05/2026/TT-BKHCN, Khung đạo đức sẽ được rà soát, cập nhật định kỳ ba năm một lần hoặc khi có thay đổi lớn về công nghệ và thực tiễn.

Các giải pháp trọng tâm đưa quy định quản trị an toàn vào thực tiễn

Để đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống thực tế, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ Luật Trí tuệ nhân tạo, Nghị định số 142/2026/NĐ-CP và Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia với các nhóm giải pháp hành động cụ thể:

- Nâng cao năng lực phân loại, kiểm thử và thực hiện đánh giá sự phù hợp đối với các hệ thống rủi ro cao trước khi đưa ra thị trường, đồng thời duy trì khả năng giám sát và can thiệp của con người trong suốt quá trình vận hành.

- Vận hành hiệu quả Cổng thông tin điện tử một cửa và Cơ sở dữ liệu quốc gia để tiếp nhận thông tin, xử lý sự cố kịp thời và thực hiện công tác giám sát chuyên sâu.

- Khẩn trương ban hành bộ tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro an ninh mạng, bảo mật dữ liệu.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc đánh giá, kiểm chứng các mô hình công nghệ tiên tiến. Đặc biệt, đối với các tác AI có khả năng thực hiện chuỗi nhiệm vụ dài và tự sử dụng công cụ, các cơ quan chức năng sẽ theo dõi sát bằng chứng thực tế để kịp thời cập nhật phương pháp đánh giá và biện pháp quản lý phù hợp.

Quan điểm nhất quán của Việt Nam là thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ, đồng thời làm cho năng lực đánh giá, bảo đảm an toàn và kiểm soát của con người phát triển tương xứng với năng lực kỹ thuật. Việc tạo điều kiện cho các ứng dụng rủi ro thấp kết hợp kiểm soát chặt chẽ hệ thống rủi ro cao sẽ giúp Việt Nam vừa bảo vệ con người, vừa tận dụng tối đa cơ hội đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.

Nam Phong