Thời sự

Quy hoạch sông Hồng: Tái thiết không gian & Động lực tăng trưởng xanh Kì 3: Hai chuyến đi Seoul - Thượng Hải, hai dòng sông, và những gì sông Hồng có thể học

Mai Phan Lợi - Hoàng Bắc • 07/10/2026 13:18

Tháng 9/2025, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đèo Cả Hồ Minh Hoàng (chủ ý tưởng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng) dẫn đoàn đến Seoul, làm việc với Thị trưởng Oh Se-hoon, đi dọc sông Hán, rồi sau đó làm việc với Tập đoàn POSCO về khả năng hợp tác thi công thép cho dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Trước đó ít tuần, đoàn cũng đã đến Trùng Khánh (Trung Quốc) khảo sát.

avata-02(1).png

Tháng 2/2026, một đoàn công tác khác của thành phố Hà Nội, do Phó Chủ tịch Thường trực UBND Dương Đức Tuấn dẫn đầu, đến Thượng Hải. Đoàn làm việc với Viện Quy hoạch và Thiết kế đô thị Đồng Tế (TJUPDI), Sở Quy hoạch và Tài nguyên thiên nhiên Thượng Hải, và đặc biệt là Tập đoàn Danish Hydraulic Institute (DHI, Đan Mạch) - một trong những đơn vị tư vấn thủy lực hàng đầu thế giới - có văn phòng tại Trung Quốc. Hai bên ký biên bản ghi nhớ hợp tác, trao đổi chuyên gia và dữ liệu quy hoạch. Mô hình được đoàn ghi nhận là trục "Bến Thượng Hải – Phố Đông", nơi sông Hoàng Phố đóng vai trò trục trung tâm giữa khu phố cổ kiến trúc thuộc địa và khu tài chính cao tầng hiện đại.

Ảnh 3
Đoàn công tác làm việc với Sở Quy hoạch và Tài nguyên thiên nhiên TP. Thượng Hải. Ảnh: TTXVN

Hai chuyến đi, hai thành phố, nhưng cùng một câu hỏi: Con sông chảy qua một thủ đô, một trung tâm chính trị hoặc kinh tế lớn nhất châu Á, có thể trở thành động lực phát triển mà không trở thành thảm họa hay không? Cả Seoul lẫn Thượng Hải đều đã tự trả lời câu hỏi đó theo cách của mình, một bên bằng nửa thế kỷ chỉnh trị, một bên bằng bảy thập kỷ mở rộng không ngừng. Và cả hai câu trả lời đó đều có mặt sáng và mặt tối xứng đáng được nhìn kĩ trước khi sông Hồng chọn con đường của mình.

Ảnh 4

Trước khi đi vào từng bài học, cần hiểu vì sao hai thành phố này được chọn làm điểm tham chiếu, chứ không phải bất kì đô thị ven sông nào khác trên thế giới.

Về mặt vị thế đô thị: Cả Seoul và Thượng Hải đều là trung tâm chính trị hoặc kinh tế lớn nhất của quốc gia mình, dân số trên dưới 20 triệu người tính cả vùng đô thị, và đều đã trải qua giai đoạn chuyển đổi từ thành phố công nghiệp hoặc hành chính truyền thống sang trung tâm tài chính - dịch vụ hiện đại trong vòng vài thập kỷ, tốc độ biến đổi mà Hà Nội đang đứng trước ngưỡng cửa tương tự.

Về mặt dòng sông, cả sông Hán, sông Hoàng Phố và sông Hồng đều chảy giữa lòng đô thị, chia đô thị thành hai bờ, và từng được xem là ranh giới trước khi được coi là trục trung tâm. Một nghiên cứu so sánh của Tạp chí Kiến Trúc từng chỉ ra: "Hai thành phố Seoul và Hà Nội đều là các thành phố thủ đô lớn ở châu Á, có tốc độ phát triển nhanh và tính năng động cao. Xét về tính chất địa lí và điều kiện thủy văn thì sông Hồng của Hà Nội và sông Hán ở Seoul cũng có những nét tương đồng".

Ảnh 5
Toàn cảnh sông Hán – biểu tượng của đô thị Seoul hiện đại với hệ thống cầu, đại lộ và không gian hai bờ sông được quy hoạch đồng bộ. Ảnh: T.L

Với Thượng Hải, điểm tương đồng được giới chuyên gia trong nước nêu rõ hơn ở khía cạnh quy hoạch đa cực: Áp lực dân cư quá tải tại khu lõi, nhu cầu mở rộng không gian phát triển ra các khu vực vệ tinh, và đặc biệt là ý tưởng chuyển trục phát triển đô thị từ "hướng tâm" sang "hướng sông", điều mà đoàn công tác Hà Nội ghi nhận là tương đồng trực tiếp với vai trò sông Hoàng Phố.

Nhưng khác biệt cũng quan trọng không kém sự tương đồng, và đây là điều cần giữ trong đầu suốt phần còn lại của bài viết. Sông Hàn có lưu lượng đỉnh lũ thiết kế mà các chuyên gia Hàn Quốc chia sẻ với đoàn Đèo Cả là khoảng 3.000 m³/giây; trong khi sông Hồng từng ghi nhận lưu lượng đỉnh lũ lịch sử tới 37.800 m³/giây tại Sơn Tây năm 1971, gấp hơn mười hai lần. Sông Hoàng Phố chảy hai chiều theo thủy triều, lòng sông sâu nhưng hiền hòa; trong khi sông Hồng là dòng chảy một chiều từ thượng nguồn đổ về với biên độ mực nước lũ - kiệt có thể chênh nhau 8 -11 mét. Đây không phải điểm để bác bỏ việc học hỏi, mà là điều kiện cần nhớ khi áp dụng bất kì bài học nào.

Ảnh 6

Câu chuyện Seoul mà đoàn Đèo Cả mang về thường được kể như một thành công trọn vẹn, và ở nhiều khía cạnh, nó đúng là vậy. Từ một dòng sông từng bị coi là ranh giới nghèo nàn phía nam thành phố, sông Hán đã trở thành trục phát triển đô thị - văn hóa - du lịch, nơi Gangnam từ vùng ngoại vi trở thành một trong những thị trường bất động sản đắt đỏ nhất thế giới. Thành quả đó xây trên một trình tự rất rõ ràng: Kiểm soát lũ thượng nguồn bằng chuỗi hồ chứa lớn hoàn thành từ thập niên 1970, nạo vét và ổn định lòng sông, rồi mới từng bước mở ra không gian công cộng, đường dạo, công viên hai bên bờ trong các thập niên sau.

Nhưng một bài viết đáng chú ý trên tạp chí Tia Sáng, mang tên "Mặt sau của hào quang kì tích sông Hán", đã chỉ ra phần ít được nhắc tới của câu chuyện: “Sai lầm của Seoul nằm ở niềm tin rằng các công trình kỹ thuật có thể hoàn toàn kiểm soát thiên nhiên. Trong nhiều thập kỷ, dòng sông được chỉnh trị chủ yếu bằng hạ tầng cứng". Và cái giá xã hội của quá trình đó: "Để mở rộng Seoul về phía nam và tái cấu trúc hành lang ven sông, một lượng lớn cư dân nghèo đã phải rời đi trong các thập niên 1970 và 1980".Gangnam, biểu tượng thành công rực rỡ nhất của mô hình sông Hán, cũng chính là nơi mang dấu vết của một cuộc di dời quy mô lớn mà lịch sử chính thức ít khi nhắc đến.

Điều đáng ghi nhận, như bài viết đó kết luận, không phải là Seoul không mắc sai lầm, mà là thành phố "có khả năng nhìn lại để điều chỉnh." Những năm 2000 trở đi, Seoul bắt đầu gỡ bỏ dần các đoạn kè cứng, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên ven sông, chuyển từ tư duy "kiểm soát hoàn toàn" sang "sống cùng dòng sông". Đó là bài học kép: Thành công kỹ thuật ban đầu, cái giá xã hội đi kèm, và khả năng tự sửa sai về sau.

Khi đoàn Đèo Cả khảo sát sông Hán tháng 9/2025, những gì được ghi nhận lại nghiêng nhiều về phần kỹ thuật thành công: Hệ thống xe buýt dọc bờ sông, phương án monorail (hệ thống tàu điện một ray) đang được Seoul nghiên cứu, các đoạn cầu cạn thiết kế hợp lý với giải pháp hạ thấp cao trình để bảo tồn cảnh quan. Đoàn cũng ghi nhận một chi tiết quan trọng về mặt sinh thái: "Mô hình xử lý nước thải trước khi xả ra sông và quản lý hệ thống thảm thực vật ven bờ". Đây là phần kỹ thuật môi trường ít được nhắc đến nhưng có giá trị thực tiễn cao cho sông Hồng, nơi chất lượng nước đang là vấn đề cấp bách không kém gì thoát lũ.

Nguyên tắc tổng quát mà Đèo Cả đúc kết từ cả Trùng Khánh lẫn Seoul là: "Ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông hiện đại là tiền đề để mở ra không gian xây dựng đô thị". Đây là phần nửa đầu của bài học Seoul - hạ tầng trước, không gian đô thị sau. Phần nửa sau - kiểm soát lũ thượng nguồn hoàn chỉnh trước khi hạ tầng giao thông chạm vào bãi sông - là phần ít được nhắc đến hơn trong các bản tin về chuyến đi, nhưng lại chính là nền tảng kỹ thuật khiến phần nửa đầu có thể vận hành an toàn.

Ảnh 7

Câu chuyện Thượng Hải đi theo một logic khác hẳn, không phải kiểm soát trước mở rộng sau, mà là mở rộng liên tục trong bảy thập kỷ, với công nghệ và hạ tầng được nâng cấp dần theo kịp quy mô đô thị hóa.

Mô hình mà đoàn công tác Hà Nội ghi nhận tại Thượng Hải - trục Bến Thượng Hải - Phố Đông là một thành tựu quy hoạch đáng nể về mặt thẩm mỹ và kinh tế: Bảo tồn quần thể kiến trúc thuộc địa bên bờ tây, xây dựng trung tâm tài chính Lục Gia Chủy với các tòa nhà chọc trời bên bờ đông, kết nối hai bờ bằng hệ thống hầm vượt sông và phà du lịch, tạo ra sự tương phản đầy chủ đích giữa quá khứ và tương lai trong cùng một khung nhìn. Đây chính xác là loại hình ảnh biểu tượng mà một dự án như Trục đại lộ cảnh quan Sông Hồng có thể hướng tới.

Nhưng việc đoàn công tác làm việc trực tiếp với Danish Hydraulic Institute - đơn vị chuyên về mô hình thủy lực, không phải đơn vị thiết kế cảnh quan - cho thấy chính Thượng Hải, qua đối tác tư vấn của mình, cũng nhận thức rõ rằng vẻ đẹp của trục Hoàng Phố không thể tách khỏi bài toán kỹ thuật thủy văn đứng sau nó. Đây là chi tiết dễ bị bỏ qua nhưng rất quan trọng: Ngay cả khi học hỏi mô hình cảnh quan của Thượng Hải, đoàn Hà Nội đã chủ động tìm đến chuyên môn thủy lực quốc tế, thay vì chỉ dừng ở phần hình ảnh bề mặt.

Và đó là lí do bài học Thượng Hải cần được đọc đầy đủ cả hai mặt. Bảy thập kỷ mở rộng đô thị đã thu hẹp diện tích mặt nước tự nhiên của thành phố từ khoảng 15% xuống còn 8,5%, khi gần 60% ao hồ bị lấp để nhường chỗ cho các khu như Phố Đông, Hồng Kiều. Khi cơn mưa 212,8 mm trong 4,5 giờ đổ xuống quận Dương Phố ngày 19/7/2026 - chỉ năm tháng sau chuyến khảo sát của đoàn Hà Nội - thành phố với hệ thống bơm hiện đại bậc nhất châu Á và hầm ngầm đa năng lớn nhất lục địa vẫn phải huy động 70.000 nhân viên cứu hộ dùng xe bán tải và xô múc nước.

Ảnh 8

Nguyên nhân cốt lõi, như giới chuyên môn thừa nhận sau sự cố, là bề mặt đô thị đã mất phần lớn khả năng thấm tự nhiên qua quá trình mở rộng, và công nghệ thoát nước, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể tạo thêm một mét khối không gian chứa nước nào.

Đây chính xác là nửa bài học mà bất kì thành phố nào học theo mô hình Thượng Hải cũng cần ghi nhớ song song với phần hình ảnh đẹp đẽ của trục Hoàng Phố: Thành công thẩm mỹ và kinh tế của mô hình "quay mặt vào sông" hoàn toàn có thể song hành với rủi ro tích lũy về khả năng hấp thụ nước, nếu quá trình mở rộng không được cân bằng bằng việc giữ lại đủ không gian tự nhiên.

Ảnh 9

Nhìn vào các con số và nguyên tắc kỹ thuật được công bố trong dự án Trục đại lộ cảnh quan Sông Hồng tính đến tháng 9/2026, có thể thấy rõ dấu ấn của cả hai chuyến học hỏi, và nhiều điểm trong số đó đáng được ghi nhận là bước đi đúng hướng.

Phần tổ chức không gian theo ba mức thềm địa hình: Khu vực trên 11,5 m được phép xây dựng mới, khu vực 9,5–11,5 m là không gian linh hoạt thích ứng, khu vực dưới 9,5 m dành cho phục hồi sinh thái là cách tiếp cận phân tầng theo cao độ gần với tinh thần "sống cùng dòng sông" mà Seoul đã chuyển sang sau những năm 2000, chứ không phải kiểu "kè cứng toàn tuyến" của giai đoạn đầu. Đây là điểm đáng ghi nhận, vì nó cho thấy bài học về cái giá của việc "tin rằng công trình kỹ thuật có thể hoàn toàn kiểm soát thiên nhiên" đã được tiếp thu, ít nhất là ở cấp độ nguyên tắc.

Ảnh 10

Nguyên tắc "không thu hẹp không gian thoát lũ, không đề xuất xây đê mới nằm trong đê cũ", cùng với việc hướng tuyến đường bộ được chọn bám sát hệ thống đê hiện hữu thay vì mở tuyến hoàn toàn mới lấn sâu vào lòng sông, cũng là tín hiệu tích cực, nó cho thấy phần "kiểm soát lũ trước" của bài học Seoul đang được cân nhắc nghiêm túc, dù mức độ hoàn chỉnh của công tác kiểm soát đó, đặc biệt là tiến độ các công trình điều tiết thượng nguồn, vẫn còn là câu hỏi mở so với việc các khu đô thị dọc tuyến đã bắt đầu được khởi công.

Việc UBND Thành phố công khai con số 3.900 ha diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông - vượt mức 2.128 ha mà Quyết định 257/QĐ-TTg quy định, kèm theo căn cứ là báo cáo mô hình tính toán thủy văn của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất, cũng là một bước minh bạch đáng ghi nhận so với giai đoạn đầu dự án. Đây là cách tiếp cận gần với tinh thần làm việc cùng chuyên gia thủy lực quốc tế mà đoàn công tác đã thực hiện tại Thượng Hải, đưa bài toán kỹ thuật ra ánh sáng thay vì giữ kín.

Ảnh 11
Ảnh 12
Trục đại lộ cảnh quan Sông Hồng - 1 trong 9 động lực phát triển của Thủ đô.
Ảnh 13

Dù vậy, có những khoảng trống mà cả hai bài học Seoul và Thượng Hải đều gợi ý nên được lấp đầy sớm hơn, không phải để phê phán mà để tận dụng đúng lúc hai kinh nghiệm quý giá này.

Bài học về cái giá xã hội của Gangnam, nơi "một lượng lớn cư dân nghèo đã phải rời đi" để tạo ra trục sông Hán hiện đại, gợi ý rằng phần chính sách tái định cư của dự án sông Hồng xứng đáng được đầu tư nghiên cứu kĩ không kém phần kỹ thuật thủy lực. Tín hiệu đáng mừng là nguyên tắc "chỉ di dời khi đã bố trí nơi ở mới" đã được nêu rõ trong tài liệu lấy ý kiến tháng 9/2026, điều mà Seoul của thập niên 1970 - 1980 chưa có được. Nếu nguyên tắc đó được thực hiện đúng như văn bản, đây có thể là điểm sông Hồng vượt qua phiên bản đầu của sông Hán, thay vì lặp lại.

Bài học về "mất bọt biển" của Thượng Hải gợi ý rằng trong 3.900 ha tôn cao bãi sông đã được công khai, một bảng phân tách cụ thể giữa diện tích bề mặt không thấm (đường, quảng trường, công trình) và diện tích bề mặt thấm được giữ lại (công viên đất tự nhiên, hồ điều hòa, vườn mưa) sẽ là bước tiếp theo tự nhiên và cần thiết của sự minh bạch đã có.

Đây không phải điều gì xa lạ với chính dự án: Khái niệm "vườn mưa giữ phù sa" và "đê lũ sinh thái dạng bậc thang" đã xuất hiện trong tài liệu, cho thấy hướng đi đúng đã được xác định; điều còn thiếu là số liệu định lượng cụ thể để công chúng và chuyên gia có thể thẩm định.

Ảnh 11
17h30 chiều, hoàng hôn buông xuống nhuộm hồng cả một vùng trời sông Hồng. Đây là thời điểm cầu Long Biên lãng mạn nhất, khiến bất cứ ai đi ngang qua cũng phải đi chậm lại để ngắm nhìn. Ảnh: Hà Tuấn

Và bài học lớn nhất mà cả hai thành phố cùng chia sẻ, dù đi theo hai con đường khác nhau là: Thành phố nào biết nhìn lại và điều chỉnh sẽ bền vững hơn thành phố chỉ biết tiến về phía trước. Seoul của thập niên 2000 không phủ nhận Seoul của thập niên 1970, nó xây trên nền tảng đó rồi sửa những gì cần sửa.

Thượng Hải, ngay sau trận ngập tháng 7, đã công khai thừa nhận cần đo "khả năng phục hồi bằng phút cảnh báo, mét khối trữ nước" thay vì chỉ bằng số lượng camera AI. Đó là tinh thần cầu thị mà một siêu đô thị trưởng thành cần có, và đó cũng chính là tinh thần mà 20 ngày lấy ý kiến nhân dân, từ 7 đến 27 tháng 9 năm nay, đang mở ra cho sông Hồng.

Hai đoàn công tác, hai thành phố, hai dòng sông. Nhưng câu hỏi cuối cùng không phải sông Hồng nên giống Seoul hay giống Thượng Hải hơn.

Câu hỏi là: Trong những gì hai thành phố ấy đã học được từ chính sai lầm và thành công của mình, sông Hồng có thể rút ngắn con đường nào, để không phải tự mình trải qua đủ cả nửa thế kỷ sai và nửa thế kỷ sửa (?!)

Ảnh 6
Ngay dưới chân cầu, những vườn hoa bãi ven sông đang vào độ khoe sắc rực rỡ nhất. Ảnh: Hà Tuấn
Ảnh 15
Ảnh 16

(Còn tiếp: Kì cuối: Khi hạnh phúc và sinh kế của người dân là thước đo cao nhất)

Mai Phan Lợi - Hoàng Bắc