Kinh tế

Xẻ nhỏ EVN: Ai được lợi?

Mai Phan Lợi • 08/10/2026 10:16

Tách hẳn Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) ra khỏi Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chuyển về bộ chuyên ngành quản lý

Chiều 7/10, tại họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công Thương, ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, lần đầu tiên công khai chi tiết một kế hoạch mà nếu triển khai trọn vẹn, sẽ là lần tái cấu trúc sâu nhất trong lịch sử ngành điện Việt Nam.

Tách hẳn EVNNPT

Đó là tách hẳn Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) ra khỏi Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chuyển về bộ chuyên ngành quản lý; thành lập một Tổng công ty Phát điện Chiến lược Quốc gia nắm giữ các nhà máy thủy điện đa mục tiêu lớn nhất đất nước cùng điện hạt nhân tương lai;

Tiếp tục cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại 5 tổng công ty phát điện còn lại; và đẩy các tổng công ty điện lực tỉnh, thành tiến tới trở thành những đơn vị mua điện cạnh tranh trên thị trường bán buôn, thay vì chỉ phân phối độc quyền như hiện nay.

Nói ngắn gọn: EVN, tập đoàn từng được ví như "ông vua không ngai" của toàn bộ chuỗi giá trị điện lực, đang đứng trước viễn cảnh bị xẻ thành ít nhất bốn mảnh: truyền tải, một tổng công ty phát điện chiến lược giữ lại trong tay nhà nước, các tổng công ty phát điện thương mại dần chuyển sang tư nhân, và khối phân phối - bán lẻ được tổ chức lại để cạnh tranh mua điện.

Một chi tiết đáng chú ý, dễ bị bỏ qua nếu chỉ đọc tin họp báo: cả hai đề án đứng sau toàn bộ kế hoạch này: Đề án tái cơ cấu ngành điện phục vụ phát triển thị trường điện cạnh tranh do Bộ Công Thương chủ trì, và Đề án tái cơ cấu EVN do Bộ Tài chính chủ trì, đều đã được trình Chính phủ đúng ngày 15/9.

Đây chính là ngày mà, trong một cuộc làm việc khác cùng buổi sáng, EVN đã chủ động kiến nghị với Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc việc "nghiên cứu cơ chế thu hút nguồn lực xã hội đầu tư hạ tầng truyền tải", điều từng được nhiều người, trong đó có người viết bài này, đọc như một bước nhượng bộ khá lớn từ phía EVN.

Nhìn lại với thông tin ngày 7/10, có thể thấy lời kiến nghị ấy thực chất chỉ là phần nổi rất nhỏ của một kế hoạch tái cơ cấu đã được chuẩn bị ở quy mô lớn hơn nhiều, nằm sẵn trên bàn Chính phủ cùng ngày hôm đó.

Câu hỏi đáng đặt ra lúc này không còn là "EVN có bị phá độc quyền hay không", câu hỏi ấy, qua các kỳ phân tích trước đó về Nghị định 243, Nghị quyết 70, bài học viễn thông và vụ án tại EVNNPT, gần như đã có câu trả lời là "có, đang diễn ra". Câu hỏi cần đặt ra bây giờ cụ thể hơn: trong một cuộc xẻ nhỏ quy mô như vậy, ai thực sự được lợi?

dien-luc 2
Chiều 7/10, tại họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công Thương, ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, lần đầu tiên công khai chi tiết một kế hoạch mà nếu triển khai trọn vẹn, sẽ là lần tái cấu trúc sâu nhất trong lịch sử ngành điện Việt Nam

Nhóm đầu tiên, dễ nhận thấy nhất, là khối nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài đang chờ đợi để rót vốn vào khâu phát điện. Theo chính ông Bùi Quốc Hùng, EVN hiện chỉ còn sở hữu chưa đến 40% tổng công suất các dự án, công trình nguồn điện trên cả nước, một con số đủ để khẳng định rằng thị trường phát điện cạnh tranh, trên thực tế, đã hình thành từ trước khi có bất kỳ đề án tái cơ cấu nào.

Việc tiếp tục cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại 5 tổng công ty phát điện còn lại thuộc EVN, kế thừa tinh thần của Quyết định 168/2017 từ gần một thập kỷ trước, mở ra dư địa để dòng vốn tư nhân và quốc tế gia tăng tỷ trọng sở hữu hơn nữa.

Trong bối cảnh Quy hoạch điện VIII điều chỉnh (được Chính phủ phê duyệt hồi tháng 4) đặt mục tiêu tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống đạt từ 180.000 đến 220.000 MW vào năm 2030, đồng nghĩa phải bổ sung gần 90.000 MW nguồn điện mới chỉ trong vài năm tới, nhu cầu vốn cho riêng khâu phát điện là con số mà ngân sách nhà nước, dù có cố gắng đến đâu, cũng khó một mình gánh vác.

Nhóm thứ hai được lợi, dù gián tiếp hơn, chính là các tổng công ty điện lực tỉnh, thành thuộc EVN. Theo định hướng được công bố, các đơn vị này sẽ dần trở thành những "đơn vị mua điện cạnh tranh" trên thị trường bán buôn, thay vì chỉ nhận lệnh phân phối từ công ty mẹ như lâu nay.

Về lâu dài, khi chi phí phân phối được tách bạch khỏi chi phí bán lẻ, và việc tách bạch sở hữu được tiến hành, các tổng công ty này có thể có không gian tự chủ tài chính và tự chủ kinh doanh lớn hơn hẳn so với vị trí một đơn vị thành viên chịu sự điều phối hoàn toàn từ EVN.

Đây cũng chính là mắt xích nối liền với mạch chính sách đã được phân tích trong loạt bài trước: chính các tổng công ty điện lực tại khu công nghiệp, khu kinh tế là đối tượng được Nghị định 243/2026 mở rộng quyền tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) với tư cách một bên bán lẻ độc lập.

Không đồng nghĩa với việc nhà nước rút lui khỏi ngành điện

Nhưng ở chiều ngược lại, có một nhóm tài sản mà đề án tái cơ cấu lần này không hề có ý định "xẻ" ra cho thị trường, mà ngược lại, còn quy tụ lại chặt chẽ hơn trong tay nhà nước: đó là Tổng công ty Phát điện Chiến lược Quốc gia dự kiến thành lập, nắm giữ các nhà máy thủy điện đa mục tiêu lớn nhất đất nước như Hòa Bình, Ialy, cùng các dự án điện hạt nhân sau này.

Theo ông Bùi Quốc Hùng, trước mắt tổng công ty này sẽ vẫn nằm trong cơ cấu EVN, về lâu dài mới tính đến việc tách ra độc lập. Đây là chi tiết đáng chú ý nhất về mặt tư duy chính sách: nếu khâu phát điện thương mại (các nhà máy nhiệt điện, điện khí, điện tái tạo) được xem là lĩnh vực có thể mở hoàn toàn cho cạnh tranh, thì những công trình mang tính "vương miện" của hệ thống điện, vừa có chức năng phát điện vừa đảm nhận vai trò điều tiết lũ, cấp nước, an ninh quốc phòng, lại được giữ lại như một pháo đài riêng.

Nói cách khác, cuộc xẻ nhỏ EVN không đồng nghĩa với việc nhà nước rút lui khỏi ngành điện, mà là một sự tái phân bổ: nhường lại phần việc cần nhiều vốn, nhiều rủi ro thương mại cho khu vực tư nhân và quốc tế, đồng thời củng cố quyền kiểm soát tuyệt đối với phần tài sản mang tính chiến lược nhất.

Khâu truyền tải, phần được chú ý nhiều nhất trong loạt bài trước vì gắn với vụ án 47 bị can tại EVNNPT, lại rơi vào một tình thế trung gian. Việc tách EVNNPT khỏi EVN để chuyển về bộ quản lý không phải là tư nhân hóa, mà là một hình thức quốc hữu hóa lại theo chiều ngang — chuyển quyền sở hữu từ một tập đoàn kinh tế sang trực tiếp cơ quan quản lý nhà nước, tách bạch với các khâu kinh doanh khác để tránh xung đột lợi ích.

Về lý thuyết, đây là bước đi đúng với khuyến nghị quốc tế mà chính ông Bùi Quốc Hùng viện dẫn: truyền tải và phân phối là những khâu mang tính độc quyền tự nhiên, do đặc thù hạ tầng và hành lang đất đai, không thể có nhà đầu tư thứ hai xây đường dây song song để cạnh tranh, nên cách xử lý phù hợp nhất không phải là mở cho tư nhân, mà là tách khỏi doanh nghiệp kinh doanh để đặt dưới giám sát trực tiếp của cơ quan quản lý ngành, mô hình gần giống với việc Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) đã được chuyển về Bộ Công Thương trước đó.

Nếu thực hiện đúng tinh thần ấy, người được lợi nhiều nhất ở khâu này chính là toàn bộ các nhà đầu tư phát điện tư nhân và FDI, nhóm từng khốn khổ vì sự chậm trễ, thiếu minh bạch trong thỏa thuận đấu nối khi EVNNPT vừa là chủ đầu tư hạ tầng, vừa là đơn vị thuộc chính tập đoàn cạnh tranh gián tiếp với họ ở khâu phát điện.

tieu-thu-dien-.jpg
Nhu cầu tiêu thụ điện được dự báo tăng từ 10,5% đến 12,9% mỗi năm. Ảnh minh hoạ

Tất cả những chuyển động này cần được đặt đúng vào bối cảnh khiến chúng trở nên cấp bách: kịch bản tăng trưởng GDP hai con số cho giai đoạn 2026-2030 mà Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng ấy, nhu cầu tiêu thụ điện được dự báo tăng từ 10,5% đến 12,9% mỗi năm, với hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và GDP duy trì ở mức 1,1 đến 1,2 lần, nghĩa là muốn kinh tế tăng trưởng hai con số, ngành điện phải tăng trưởng nhanh hơn thế.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn 2026-2030 được ước tính vượt 37 tỷ USD mỗi năm, cao gấp gần ba lần mức 13,5 tỷ USD/năm từng nêu trong Quy hoạch điện VIII ban đầu, và sẽ còn tăng lên khoảng 56 tỷ USD mỗi năm cho giai đoạn 2031-2050.

Đáng lo ngại hơn, miền Bắc (nơi tập trung phần lớn công nghiệp chế biến, chế tạo và các trung tâm dữ liệu công nghệ cao) được dự báo thiếu hụt tới 30.800 MW vào năm 2030, tăng lên 83.600 MW vào năm 2035, do hạn chế về tiềm năng xây dựng nguồn năng lượng tái tạo tại chỗ, buộc phải phụ thuộc vào truyền tải điện liên vùng từ miền Trung và miền Nam, những khu vực, ngược lại, theo tính toán của Tổng công ty Điện lực miền Trung, có thể dư tới 50.000 MW nguồn vào năm 2030 trong khi phụ tải tại chỗ chỉ cần khoảng 10.000 MW.

Chính khoảng cách cung – cầu mang tính vùng miền sâu sắc ấy mới là lời giải thích thuyết phục nhất cho việc vì sao khâu truyền tải cần được tách ra thành một thực thể độc lập, minh bạch, thay vì tiếp tục vận hành như một bộ phận nội bộ của EVN.

Khi hàng chục nghìn MW điện phải di chuyển liên vùng mỗi năm, với quy mô vốn đầu tư lưới điện lên tới hàng chục tỷ USD, bất kỳ sự chậm trễ, thiếu minh bạch hay rủi ro quản trị nào ở khâu truyền tải (như những gì đã phơi bày qua vụ án tại EVNNPT) đều có thể trở thành nút thắt cổ chai kìm hãm toàn bộ mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nền kinh tế, chứ không chỉ riêng ngành điện.

Nhìn lại toàn bộ bức tranh, câu trả lời cho câu hỏi "ai được lợi" hóa ra không đơn giản như một phép chia công bằng giữa nhà nước và thị trường. Nhà đầu tư tư nhân, FDI được lợi rõ rệt ở khâu phát điện thương mại và tiềm năng ở khâu truyền tải nếu cơ chế xã hội hóa vốn được thiết kế minh bạch. Các tổng công ty điện lực tỉnh, thành được lợi về không gian tự chủ.

Nhưng nhà nước, thông qua việc giữ lại trọn vẹn khối thủy điện đa mục tiêu và điện hạt nhân trong một tổng công ty chiến lược riêng, cũng đồng thời củng cố phần quyền lực mà mình không có ý định chia sẻ.

Đây có lẽ là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa lần tái cơ cấu này với các đợt cải cách nửa vời trước đó mà nhiều phân tích, trong đó có cả những bài viết trước của chính người viết, từng gọi là "động tác giả": lần này, áp lực không chỉ đến từ chủ trương chính trị hay từ một vụ án hình sự đơn lẻ, mà đến từ một bài toán số học không thể né tránh: khi nhu cầu vốn cho ngành điện đã vượt xa khả năng của riêng một tập đoàn, dù tập đoàn ấy có doanh thu hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm, việc xẻ nhỏ để mỗi phần tự tìm nguồn vốn phù hợp với bản chất rủi ro của mình không còn là một lựa chọn cải cách, mà là một điều kiện sống còn cho chính mục tiêu tăng trưởng hai con số mà cả nền kinh tế đang theo đuổi.

Mai Phan Lợi