Thời sự

Quy hoạch sông Hồng: Tái thiết không gian & Động lực tăng trưởng xanh Kì cuối: Khi hạnh phúc và sinh kế của người dân là thước đo cao nhất

Lê Thọ Bình • 09/10/2026 12:05

Chuyển từ tư duy phòng thủ sang chủ động kiến tạo, Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5000 cùng Trục đại lộ cảnh quan mang kỳ vọng lịch sử: Đưa Hà Nội chính thức "quay mặt vào sông", biến dải phù sa ngàn năm thành trục động lực tăng trưởng xanh. Nhưng trên hành trình vươn mình ra dòng sông Mẹ, bài toán an sinh, tái định cư và giữ gìn hồn cốt văn hóa ven bờ chính là phép thử lớn nhất cho năng lực quản trị đô thị hiện đại.

avata 3
avata 3
Ảnh 2

Trong suốt hàng thế kỷ, Hà Nội từng phải chọn thế “quay lưng” để phòng thủ trước những trận lũ lịch sử. Hệ thống đê điều kiên cố được đắp xây qua muôn đời Lý, Trần, Lê không chỉ là thành tựu trị thủy, mà còn thể hiện triết lý "tụ thủy tụ nhân", bảo vệ sự an toàn tối thượng cho kinh thành Thăng Long. Tuy nhiên, bức tường đê ấy cũng vô hình trung biến vùng bãi ven sông thành một “vùng đệm” bị bỏ ngỏ. Qua nhiều thập kỷ, sự gia tăng dân số tự phát đã biến dải đất bãi bồi đắc địa ngay sát trung tâm thành những khu dân cư thiếu hạ tầng, nhếch nhác và đối mặt với nhiều rủi ro sinh thái.

Sự xuất hiện của hàng loạt hồ thủy điện lớn ở thượng nguồn cùng các phương pháp trị thủy hiện đại đã làm thay đổi căn bản đặc tính thủy văn của dòng sông. Nguy cơ vỡ đê hay lũ quét lịch sử đã được kiểm soát ở mức tối đa, tạo ra thời điểm chín muồi để Hà Nội bước vào một kỷ nguyên mới: Tái thiết không gian đô thị hướng sông, đưa sông Hồng trở thành trung tâm phát triển xanh, văn hóa, kinh tế và sinh thái hiện đại.

tu lien nhin tu tren cao
Khu vực Tứ Liên (phường Hồng Hà, Hà Nội) nhìn từ trên cao.

Chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và UBND Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đồ án quy hoạch phân khu sông Hồng cùng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đã nhận được sự đồng thuận vô cùng to lớn từ đông đảo chuyên gia, các nhà khoa học và tầng lớp nhân dân. Đây không chỉ là một kế hoạch mở rộng đô thị đơn thuần, mà là chiến lược tầm nhìn trăm năm để sửa chữa những bất cập tích tụ, tạo dư địa phát triển bứt phá cho Thủ đô. Lợi ích toàn cục của đại án này là không thể phủ nhận: Giao thông thông suốt, diện mạo đô thị văn minh, không gian công cộng rộng mở và năng lực cạnh tranh quốc tế của Hà Nội được nâng cao rõ rệt.

Tuy nhiên, đằng sau bức tranh hoành tráng của những cây cầu mới, những đại lộ xanh hay những tòa nhà chọc trời, bài toán cốt lõi và nhạy cảm nhất chính là số phận của hàng chục nghìn hộ dân đang cư trú ngoài bãi sông. Phát triển đô thị không thể tách rời trách nhiệm an sinh xã hội. Nhìn từ góc độ lịch sử cũng như thực tiễn, người dân vùng bãi sông Hồng đã gắn bó nhiều thế hệ với dải phù sa này. Việc giải phóng mặt bằng, di dời và bố trí tái định cư cho họ không thể chỉ nhìn nhận qua lăng kính con số kỹ thuật hay giá trị bồi thường đất đai.

Ảnh 04
Người dân ngồi xem công trường xây dựng cầu Tứ Liên.

Mục tiêu xuyên suốt mà Nhà nước và Thành phố đặt ra là người dân sau khi di dời phải nhận được sự hưởng thụ tốt hơn, hoặc tối thiểu là "bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ". Cụm từ "tốt hơn" ấy phải được hiểu trọn vẹn trên cả phương diện vật chất lẫn tinh thần: Từ diện tích ở, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, công viên) cho đến sinh kế lâu dài và các giá trị văn hóa tâm linh không thể tách rời. Đồng thuận xã hội chỉ thực sự bền chặt khi mỗi gia đình, mỗi người dân bị ảnh hưởng bởi dự án cảm nhận được rằng, sự bứt phá của Thành phố mang lại cơ hội đổi đời tích cực và công bằng cho chính bản thân họ.

Ảnh 5

Ủng hộ chủ trương lớn là vậy, nhưng trong tâm tư của người dân vùng bãi cùng giới chuyên gia đô thị, những nỗi băn khoăn rất thực tế vẫn đang cuộn chảy như dòng sông. Những trải nghiệm từ các đợt giải phóng mặt bằng trước đây hay học hỏi kinh nghiệm từ các siêu đô thị quốc tế như Seoul hay Thượng Hải cho thấy, nếu chỉ chú trọng vào tốc độ xây dựng và quy mô hạ tầng cứng, đô thị rất dễ rơi vào những cái bẫy phát triển.

Nỗi lo lớn nhất của cư dân tái định cư là kịch bản các khu tái định cư bị biến thành những "khối bê tông vô cảm" hoặc thiếu hạ tầng kết nối. Xây dựng nhà chung cư cao tầng để đền bù bồi thường là giải pháp nhanh chóng về mặt mặt bằng, nhưng nếu những khu nhà ấy mọc lên xơ xác, thiếu cây xanh, thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, xa trường học, xa chợ và nghèo nàn về dịch vụ kết nối thì đó chỉ là việc chuyển một "xóm bãi" thiếu chuẩn sang một "xóm chung cư" khép kín. Đặc biệt, đối với các làng nghề truyền thống có tính chất kỹ thuật khắt khe như Bát Tràng, việc đưa người dân vào sống trong căn hộ cao tầng là hoàn toàn bất khả thi. Lò nung, bể ngâm đất sét, kho phơi và bãi đóng gói cồng kềnh không thể vận hành trên các tầng cao. Nếu gượng ép di dời thuần túy bằng tiền đền bù hoặc chung cư thương mại, chuỗi sản xuất gốm sứ lâu đời sẽ gãy đổ, hàng ngàn lao động mất việc làm, và hồn cốt làng cổ sẽ dần tiêu biến.

Ảnh 06
Bà Nguyễn Thị Thanh (chủ xưởng gốm xây dựng Thanh Hải ở làng nghề truyền thống Bát Tràng) chia sẻ với phóng viên Một Thế Giới: "Với Một xưởng gốm hoạt động bắt buộc phải có không gian rộng rãi để bố trí hệ thống lò nung (lò ga, lò điện), bể ngâm trộn đất sét, khu vực phơi sấy sản phẩm thô, kho chứa nguyên vật liệu và bãi đóng gói vận chuyển".

Băn khoăn thứ hai đến từ nguy cơ "xa xỉ hóa" không gian công cộng ven sông khi xuất hiện các siêu công trình biểu tượng. Ý tưởng về Tháp Kỷ nguyên 109 tầng tại Tứ Liên hay các công trình kiến trúc thương mại tầm cỡ quốc tế thu hút nhiều sự chú ý. Đô thị nào cũng cần biểu tượng, như Paris có tháp Eiffel, Seoul có sông Hán với hệ thống cầu cạn hiện đại, Thượng Hải có Bến Thượng Hải đối diện Phố Đông chọc trời. Nhưng bài học từ Thượng Hải cho thấy, khi quá trình đô thị hóa nén quá chặt bề mặt bê tông, thu hẹp không gian thấm tự nhiên và ưu tiên mặt bằng ven sông cho các tập đoàn thương mại lớn, giá trị dịch vụ sẽ bị đẩy lên rất cao. Nếu không được kiểm soát tốt, dải bờ sông xanh vốn thuộc về toàn thể cộng đồng cư dân Thủ đô có nguy cơ bị biến thành "sân sau" xa xỉ của các dự án bất động sản cao cấp, nơi người dân thu nhập thấp khó có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng.

Ảnh 07
Hồ Thủy Đình nằm ngay trước mặt đình Thúy Lĩnh (phường Lĩnh Nam, Hà Nội). Ở giữa hồ có Lầu Nghênh Phong kết hợp với cây cầu đá nối bờ.

Cuối cùng là thách thức bảo tồn bản sắc văn hóa của 123 di tích và các làng cổ ngàn năm dọc hai bờ sông. Từ Đình Chèm thờ Lý Ông Trọng, di tích quốc gia đặc biệt với hơn 2000 năm lịch sử tại Đông Ngạc, đến làng quất cảnh Tứ Liên hay làng gốm Bát Tràng, di sản sông Hồng không chỉ nằm ở những mảng tường gạch, mái đình cổ kính. Di sản sống động nhất nằm trong ký ức, trong nếp sống, trong kỹ nghệ trao truyền của những con người sống tại đó. Như chia sẻ đầy trăn trở của những nghệ nhân lâu năm tại Tứ Liên hay Bát Tràng, một đình chùa dù được phục dựng nguy nga nhưng nếu cư dân gốc bị di dời đi hết, thì ai sẽ là người rước kiệu ngày hội làng, ai làm thủ từ, ai kể lại câu chuyện trát thuyền nan đánh giặc hay kỹ thuật uốn thế cây quất ngày Tết? Nếu chỉ "đếm di tích" để giữ lại khung vỏ kiến trúc mà bỏ sót cộng đồng con người, chúng ta sẽ biến những làng cổ ven sông thành các "khu du lịch chết", thiếu đi sinh khí và chiều sâu tâm linh.

Ảnh 08
Cựu chiến binh, nghệ nhân Bùi Tăng Viêm (65 tuổi ở ngõ 28 Tứ Liên, phường Hồng Hà, Hà Nội) bộc bạch: “Cây không kể chuyện, chỉ có con người mới kể chuyện”. Ảnh bên phải là Đình Chèm thuộc phường Đông Ngạc, Hà Nội.
Ảnh 9

Để quy hoạch sông Hồng không dừng lại ở những bản vẽ mơ ước hay vấp phải những lực cản trong triển khai, Thành phố Hà Nội cần một tư duy quản trị đột phá, kết hợp giữa tri thức khoa học nghiêm ngặt và sự cầu thị, thấu cảm xã hội.

Ảnh 10

Người dân ven sông lo lắng nhất là tình trạng “quy hoạch treo” hoặc những con số ranh giới giải phóng mặt bằng thay đổi liên tục. Thành phố cần công khai, niêm yết rõ ràng bản vẽ quy hoạch chi tiết 1/5000 và 1/500 đến từng tổ dân phố, từng thửa đất. Cần ấn định tiến độ triển khai dứt điểm theo mô hình phân kỳ từng 5 năm, "làm đâu gọn đó", loại bỏ hoàn toàn cơ chế mập mờ. Bên cạnh đó, cần lập Hội đồng Giám sát Quy hoạch độc lập bao gồm đại diện chính quyền, các chuyên gia thủy lợi, kiến trúc, xã hội học và đặc biệt là đại diện của chính cư dân địa phương để theo dõi sát sao từng bước đi của dự án.

Ảnh 11
Người dân xây lại nhà sau khi giải phóng mặt bằng để xây cầu Tứ Liên.
Ảnh 12

Không thể áp dụng một công thức tái định cư đóng khung cho mọi đối tượng. Với những hộ dân thuần túy sinh hoạt đô thị, cần bố trí các khu tái định cư chất lượng cao, hoàn thiện hạ tầng xã hội trước khi di dời, áp dụng đúng nguyên tắc "chỉ di dời khi đã bố trí nơi ở mới hoàn chỉnh". Với các làng nghề như Bát Tràng, giải pháp căn cơ là xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề tập trung "Xanh – Hiện đại" ở vùng đất cao an toàn (cao trình trên 11,5 m) để tiếp nhận toàn bộ các xưởng sản xuất di dời. Song song đó, khoanh vùng bảo vệ lõi làng cổ Bát Tràng thành một "Bảo tàng sống", kết hợp vệt bãi sông thành công viên cảnh quan gốm sứ ngoài trời và bến thuyền du lịch. Việc gắn tái định cư với phát triển kinh tế du lịch di sản tại chỗ sẽ giúp người dân vừa giữ được nhà, giữ được nghề, vừa gia tăng thu nhập từ không gian mới.

Ảnh 14
Ảnh 15
Buổi chiều, những nhịp cầu không còn sắc nét như giữa trưa mà chuyển sang những gam màu trầm hơn. Mặt sông Hồng cũng thay đổi sắc màu theo từng phút.

Mọi phương án kiến trúc, đê lũ sinh thái hay công trình điểm nhấn đều phải tuân thủ tuyệt đối các thông số của Quy hoạch phòng chống lũ 257. Việc áp dụng các bộ công cụ mô phỏng thủy lực tiên tiến như MIKE 11, MIKE 21 hay Delft3D kết hợp thử nghiệm mô hình vật lý thu nhỏ trong phòng thí nghiệm là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo an toàn thoát lũ cho trạm Long Biên. Cùng với đó, việc mở rộng diện tích xây dựng tôn cao bãi sông phải đi kèm với cam kết giữ lại đủ tỷ lệ bề mặt thấm tự nhiên (vườn mưa, hồ điều hòa, đê lũ dạng bậc thang) nhằm tránh vệt bẫy "mất bọt biển" mà Thượng Hải từng nếm trải. Trong bảo tồn, việc giữ lại một phần cộng đồng dân cư gốc tại chỗ phải được xem là một trụ cột của chính sách văn hóa. Giữ người chính là giữ hồn, giữ ký ức cho dòng sông.

Nhiều thập kỷ qua, Hà Nội đã tích lũy đủ tiềm lực kinh tế, kỹ thuật và bài học kinh nghiệm để tự tin chinh phục dòng sông Mẹ. Khát vọng biến sông Hồng thành trục không gian động lực xanh, văn hóa, biểu tượng cho kỷ nguyên phát triển mới của Thủ đô là một chủ trương đúng đắn, mang tính thời đại và nhận được sự kỳ vọng lớn lao của toàn xã hội.

Tuy nhiên, thước đo cao nhất cho sự thành công của Quy hoạch sông Hồng không nằm ở độ cao 109 tầng của một tòa tháp biểu tượng, cũng không nằm ở chiều dài hàng chục km của những con đại lộ bê tông. Thước đo ấy phải được khắc in trên nụ cười của người dân khi chuyển về nơi ở mới, trong sự yên tâm của những người thợ gốm Bát Tràng bên lò nung nghi ngút khói, trong tiếng trống hội làng bên bến sông ngàn năm còn vang vọng, và trong sinh kế bền vững của từng gia đình vùng bãi.

Khi lấy sự hài lòng, hạnh phúc và an sinh của Nhân dân làm kim chỉ nam tối thượng, "kì tích sông Hồng" sẽ không chỉ là một kì tích hạ tầng, mà sẽ thực sự trở thành một kì tích của lòng Dân.

Ảnh 17
Ảnh 18

Lê Thọ Bình