Đạo diễn trình diễn thơ đương đại Dạ Thảo Phương: Truyền thống và cái mới không cần là kẻ thù của nhau
Tại Đức, nhà thơ Dạ Thảo Phương đưa Kiều ra khỏi trang sách để đến với khán giả nghệ thuật đương đại bằng cuộc trình diễn văn học đa hình thức mang tên Hoa Trôi. Hơn hai trăm năm sau khi Nguyễn Du viết Truyện Kiều, những câu thơ lục bát ấy tiếp tục bước vào những không gian mới, đối thoại với những người đọc mới, gợi mở một cách tiếp cận di sản trong cuộc sống hôm nay.


- Tại sao chị chọn tên “Hoa Trôi” cho trình diễn thơ của mình?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: “Hoa trôi” là hình ảnh từ câu thơ “Hoa trôi man mác biết là về đâu” trong Truyện Kiều, đoạn nói về tâm trạng tha hương của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích (toàn bộ thơ trong trình diễn cũng được lấy từ Truyện Kiều).
Trình diễn Hoa Trôi có 6 phần: Mở một mùi hương (“Cảo thơm lần giở trước đèn”), Như mai như tuyết (“Mai cốt cách, tuyết tinh thần”), Hoa lưu lạc (“Hoa trôi man mác biết là về đâu”), Hoa giữa đường (“Mà sao tan tác như hoa giữa đường”), Hoa Tâm (“Thiện căn ở tại lòng ta”), và Sóng (“Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi”). Hành trình của đoá hoa trôi dạt cũng là hành trình thân phận của Kiều, của những Kiều.
Nhân vật trong “Hoa Trôi” là một người phụ nữ sinh ra ở Việt Nam, hiện sống tại Berlin. Ở đây, cô gặp những số phận lưu lạc khác, và lắng nghe câu chuyện của họ. Cô học viết chữ Nôm, cùng họ đọc lại Kiều - theo những cách riêng tư. Quá trình tìm hiểu một văn bản cổ trở thành hành trình để con người kết nối với nhau và khám phá câu hỏi về chính mình.
Khi biến cố của số phận và thời cuộc mang một con người đi thật xa khỏi cuộc đời vốn là của chính họ, họ sẽ còn là ai, điều gì còn có thể neo họ lại với đời sống này? Trình diễn không nhằm đưa ra câu trả lời. Nó chỉ mở ra một không gian văn học để các cá nhân và ngôn ngữ, hình thức hiện diện khác nhau của tác phẩm cùng đối thoại với nhau. Qua quá trình đó, mỗi người có thể tự lắng nghe những rung động và suy tư của bản thân.
Vì, đọc gì cũng là tìm cách đọc chính mình.

- Tại sao một nhà thơ thực hành phong cách đương đại và đang sống ở châu Âu như chị lại chọn đề tài Truyện Kiều?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Cùng một âm đọc “kiều”, văn tự Hán - Nôm có nhiều chữ viết với trường nghĩa khác nhau: 嬌 - người con gái đẹp, yêu kiều (kiều nữ); 翹 - chữ dùng trong tên Thuý Kiều (翠翹); 橋 - cây cầu (cầu kiều); 僑 - người sống xa quê hương (kiều dân). Một âm đọc mà mở ra cả một thế giới liên tưởng của vẻ đẹp, sự kết nối và trải nghiệm tha hương…
Kiều Lesen (Đọc Kiều) là dự án văn hoá đọc do nghệ sĩ Alisa Anh Kotmais khởi xướng, được một nhóm văn nghệ sĩ đang sống ở Đức thực hiện. Ý tưởng của nhóm là cùng nhau “đọc” lại Kiều bằng con mắt của ngày hôm nay, kết nối nó với trải nghiệm sống di chuyển và đa văn hoá. Đây là một dự án nghệ thuật độc lập, phi lợi nhuận, được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác với Parallelgesellschaft - Galerie Nord, một không gian chuyên về nghệ thuật đương đại tại Berlin.
Khi được mời tham gia dự án này, tôi lập tức thấy đề tài rất thú vị, vì… quá khó. Cảm hứng sáng tạo trong tôi bị đánh thức trước khoảng cách thời đại hơn 200 năm giữa văn bản và hiện tại cũng như sự khác biệt giữa cấu trúc cố định của thể thơ lục bát và tính tự do của nghệ thuật đương đại.
Chúng tôi có một ê kíp đa dạng về nền tảng văn chương và nghệ thuật. Tiến sĩ văn học Trương Hồng Quang tạo “điểm tựa” học thuật với bài thuyết trình về lịch sử văn bản. Lotus Ensemble - nhóm nhạc truyền thống Việt Nam có kinh nghiệm 26 năm trình diễn trên những sân khấu và đài truyền hình uy tín của Đức - trải ra một không gian lộng lẫy bằng âm thanh, khai mạc cả dự án. Trình diễn văn học “Hoa Trôi” là một phần trong tổng thể đó. Alisa Anh Kotmais thể hiện một vẻ đẹp trải nghiệm trong phần trình diễn tiếng Anh. Amelie Mai Gottsmann mang vào phần trình diễn tiếng Đức tất cả sự nhạy cảm dịu dàng của tuổi trẻ. Trương Hồng Quang đóng góp tiếng nói chiêm nghiệm của Người Suy Tư. Phạm Quỳnh Nga thể hiện một lối ngâm Kiều rất bản năng, đầy cảm xúc, đúng chất vai Giọng Nói Dân Gian. Đưa kịch bản phân cảnh, chị lắc đầu không đọc. Khi thử giọng thống nhất một tone, lần tập sau chị lại ngâm bằng một tone khác hẳn. Nhưng khi diễn, chị chính là người gây bất ngờ và xúc động mạnh mẽ cho khán giả. Đoạn “Sóng”, khi nghệ sĩ Lê Hùng trút mình vào nhịp trống ngẫu hứng, đẩy cảm xúc lên cao trào, Nga vừa cất giọng ngâm Kiều vừa rơi nước mắt, và khán giả cũng rơi nước mắt. Tôi không thể tưởng tượng thành công của chương trình có thể thiếu được bất cứ ai trong số họ!

- Trước một tác phẩm đã thành biểu tượng như vậy, chị đã làm thế nào để có thể thoát ra khỏi những cách đọc đã định sẵn, tìm cách thể hiện của chính mình?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Tôi không đặt mục tiêu là “thoát ra khỏi những cách đọc đã định sẵn”. Mỗi cách đọc đều có giá trị riêng. Người nghệ sĩ không cần cố tình trở nên “khác”, mà chỉ cần trở nên “giống” - giống với căn tính nghệ thuật của mình nhiều nhất có thể. Nhận thức được bản thân, thể hiện trung thực với nhận thức đó, thì sự đặc biệt sẽ tự nhiên xuất hiện. Tôi muốn tạo ra một không gian mở để các cách đọc khác nhau và mang đậm dấu ấn cá nhân đều có thể hiện diện. Câu hỏi của tôi không phải là “Kiều phải được đọc khác đi như thế nào cho mới lạ?”, mà là: “Người đang đọc Kiều này là ai?” và “Làm thế nào để những sự khác biệt có thể đối thoại với nhau?”.

Tôi tôn trọng giá trị kinh điển, song là một người đang sống giữa thế kỷ XXI, tôi không cảm thấy, suy nghĩ, đọc, viết hoàn toàn giống như người sống hơn hai thế kỷ trước. Nguyễn Du vĩ đại, Truyện Kiều vĩ đại. Nhưng thử tưởng tượng, cuộc sống sẽ thế nào, văn học sẽ thế nào nếu hơn 200 năm qua, tất cả các nhà thơ đều chỉ viết theo đúng một cách Nguyễn Du từng viết Kiều, và tất cả mọi người đều cảm nhận Kiều theo đúng một khung được quy định (?!). Mỗi người có một số phận, một cá tính và quyền tự do với cảm xúc, tư tưởng của mình. Tôi luôn đề nghị các nghệ sĩ không “đóng vai” một ai khác, mà mang chính câu chuyện, quan niệm, cảm xúc của họ vào cách tiếp cận tác phẩm. Toàn bộ trình diễn có một mạch kết nối chặt chẽ, thống nhất đến từng chi tiết nhỏ, đồng thời, mỗi nghệ sĩ đều có một “khoảng trời” riêng để thể hiện bản sắc cá nhân. Tôi trân trọng cá tính và tài năng của từng người. Và trong không gian tự do, họ đã trao cho tác phẩm những phiên bản nghệ thuật thật bay bổng của bản thân.

- Kiều đã sống trong một thế giới mà số phận của người phụ nữ nhiều khi nằm trong tay người khác: Cha mẹ, người mua, người bán, người đàn ông, xã hội, định kiến... Theo chị, điều gì trong thân phận ấy khiến chúng ta - những người sống ở thế kỷ XXI vẫn cảm thấy Truyện Kiều chưa hề xa lạ?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Tôi không dám nói “chúng ta”, tôi không đại diện cho ai ngoài bản thân mình. Thực tế, không ít đồng nghiệp của tôi trong giới văn chương nghệ thuật nói họ “kính nhi viễn chi” với Kiều. Bản thân tôi đã nhiều năm không đọc Kiều, cũng không còn viết theo các thể thơ truyền thống như thời kỳ đầu sáng tác nữa. Tôi không khư khư giữ di sản ở ban thờ, vì ban thờ có khoảng cách với trái tim. Truyền thống chỉ thực sự sống khi nó hiện diện trong nhịp đập rung động của hiện tại. Khi biết đề tài của dự án là Truyện Kiều, ý nghĩ đầu tiên của tôi là: Trước một tác phẩm đã trở thành biểu tượng văn hoá của cả một dân tộc, một cá nhân làm thế nào để không biến mình thành tù nhân của tâm thế “thờ phụng”, để có thể bước vào một cuộc đối thoại tự do, chân thực? Một tác phẩm thơ lục bát được viết hơn 200 năm trước liệu có còn kết nối sống động với tôi? Sống ở Berlin người ta có vô số lựa chọn sự kiện văn hoá nghệ thuật. Thời điểm diễn ra “Hoa Trôi” lại đang có hai sự kiện lớn là Berlin Art Week và Festival Văn học quốc tế. Khán giả có lý do gì để chọn một chương trình về tác phẩm thơ kinh điển của Việt Nam?
Trong quá trình nuôi ý tưởng và xây dựng dự án, tôi nhận ra câu trả lời thực ra đã có suốt hơn 200 năm nay: Rất nhiều người đã yêu Kiều, gắn bó với Kiều, cho dù họ không có cuộc sống giống như nàng.
Vấn đề là, làm sao tìm ra được một ngôn ngữ nghệ thuật đủ sức kết nối tác phẩm hôm qua và khán giả hôm nay.

- Chị cũng nhận ra một phần con người mình trong số phận đau đớn nổi chìm của Kiều?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Truyện Kiều không chỉ là câu chuyện một thân phận đau khổ.
Kiều bị giằng khỏi cuộc đời của một thiếu nữ “mai cốt cách, tuyết tinh thần”, bị mua bán và chà đạp, bị lừa gạt và cưỡng hiếp, bị đẩy đến bước phải gieo mình xuống sông Tiền Đường. Nhưng, nói theo ngôn ngữ hiện đại, Kiều đã nhiều lần tìm cách giành lại quyền chủ động với số phận mình, như một nỗ lực khẳng định phẩm giá.
Kiếp người ai cũng có những tổn thương, cả nhìn thấy được và không nhìn thấy được. Mất mát, đau đớn không phải điều đặc biệt, cũng không tự nhiên làm người ta trưởng thành. Điều quan trọng là đối xử với bất hạnh như thế nào.
Suốt cả trình diễn “Hoa Trôi”, nhân vật của tôi quỳ trên trang giấy, soi mình qua những câu thơ về nỗi đau khổ của Kiều. Nhưng đến phần “Sóng”, cô đã đứng dậy, xé trang giấy cầm máu, tự băng bó vết thương không ai nhìn thấy của mình, và dùng chính bàn tay thương tổn ấy thấm đẫm mực, viết những nét bút run rẩy nhưng phóng khoáng lên một trang giấy mới, bằng một ngôn ngữ mới.
Kết thúc trình diễn, chữ lại được viết một lần nữa, nhưng không phải bằng mực, không phải vào giấy, mà là nét bút vô hình trong không gian - mỗi người có thể tự đọc bằng trí tưởng tượng của mình. Vẫn là tư thế quỳ, nhưng ở “Hoa tan tác” là một tư thế quỳ thụ động, đông cứng vì khổ đau, còn ở “Sóng”, tư thế quỳ ấy là sự khiêm nhường và vững chãi, hướng tới sự tự do bên trong.

- Chị nghĩ thế nào về sự khác biệt giữa “thương một người phụ nữ” và “tôn trọng quyền tự quyết của một người phụ nữ”?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Thương là tiếng nói của trái tim xúc cảm, còn tôn trọng quyền tự quyết là tiếng nói của lý trí văn minh. Chữ “thương” có trí tuệ sẽ bao hàm cả chữ “trọng” trong đó.
Tôi lớn lên cùng câu ngâm của bà nội: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. “Tôn trọng quyền tự quyết của một người phụ nữ” gắn với quyền tự do cá nhân và bình đẳng giới, là những diễn ngôn tuy lúc này lúc khác có hiện diện nhưng còn chưa thấm sâu vào văn hoá Việt Nam. Suốt cuộc đời mình, Kiều luôn tìm cách tự quyết, dữ dội đến mức nhiều khi là tan lòng nát thân để bảo vệ điều nàng cho là quan trọng hơn. Nhưng sẽ là khiên cưỡng và đơn giản hoá nếu cho rằng những quyết định ấy xuất phát từ ý thức về quyền tự do cá nhân và tinh thần phản kháng của người phụ nữ, là những diễn ngôn hiện đại.
Người Việt rất quan trọng chữ “thương”, trong thương có cả rung cảm, cả tình, cả nghĩa. Từ “Một thương tóc bỏ đuôi gà”, đến “Gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm”, rồi “Người trong một nước thì thương nhau cùng”; cho đến rộng hơn nữa, thương cả giống loài khác “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tôi chưa tìm thấy trong tiếng Nhật, tiếng Anh hay tiếng Đức cách dịch nào chỉ một chữ mà có thể gói trọn các lớp nghĩa của chữ “thương” mà ông bà tự ngàn xưa đã để lại trong tiếng Việt.
Truyện Kiều có nhiều chữ “thương”. Từ tình thương phụ tử, đến chữ thương trong tình yêu đôi lứa, rồi tình thương của lòng trắc ẩn, và “giật mình mình lại thương mình xót xa”. Một điều rất đẹp là trong những hoàn cảnh tăm tối nhất, chữ “thương” đầy nhân tính vẫn lấp lánh đâu đó - “nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương”. Chữ “thương” cũng không hoàn toàn cảm tính, mà có cả ý thức công bằng - “Mấy người bạc ác tinh ma/ Mình làm mình chịu kêu mà ai thương”.
Nguyễn Du là một nhà nho sống trong xã hội phong kiến, nhưng với con mắt hôm nay, tôi nhìn thấy trong Truyện Kiều những tư tưởng “văn minh” mà không phải đồng hương nào của ông ở thế kỷ XXI cũng đã theo kịp. Kiều dám “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi gặp Kim Trọng, song khi chàng “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” thì nàng cũng tự đặt giới hạn rõ ràng, và Kim Trọng tôn trọng điều đó: “Thấy lời đoan chính dễ nghe/ Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, tôi thấy ở đó một “case study” liên quan đến những khái niệm còn gây tranh cãi trong xã hội Việt Nam thế kỷ XXI - “quyền đặt ranh giới” và “quy tắc đồng thuận” trong quan hệ tình dục.

- Quán chiếu lại, có phải đôi khi xã hội rất dễ đồng cảm với một người phụ nữ khi cô ấy là “nạn nhân”, nhưng lại khó chấp nhận khi cô ấy trở thành một con người có lựa chọn, có quyền phản biện và không chịu im lặng?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Còn tuỳ là xã hội nào, cộng đồng nào, cá nhân nào. Khi bị chi phối bởi định kiến và mặc cảm, người ta dễ vô tình tự nâng mình lên cao, “ban” một chữ “thương” cho người ít may mắn hơn. Nhưng khi trưởng thành, người ta bi mẫn mà không quên giữ gìn chữ “trọng”. Một xã hội văn minh được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng phẩm giá của mọi cá nhân, bất kể giới tính, địa vị, hoàn cảnh.

- Các nhà nghiên cứu Kiều thường có những cách tiếp cận rất đặc thù về văn bản, lịch sử, ngôn ngữ, cấu trúc và tư tưởng của Truyện Kiều. Còn “Hoa Trôi” lại tiếp cận Kiều bằng ngôn ngữ trình diễn thơ đương đại. Chị có e ngại gặp các phản ứng trái chiều khi chị chọn cách trình diễn như vậy?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Có. Người tôi e ngại đầu tiên chính là… người làm cùng dự án với tôi - Tiến sĩ văn học Trương Hồng Quang. Anh thuộc thế hệ trước tôi. Năm 1985, tại Leipzig, anh đã bảo vệ luận án tiến sĩ so sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với Faust của Goethe, và giờ vẫn tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy về Kiều. Đây là lần đầu tiên chúng tôi làm việc cùng nhau. Tôi trân trọng cơ hội được làm việc với một học giả như anh, nhưng cũng đã e ngại anh có thể không đồng tình với cách tiếp cận Kiều không theo lối truyền thống của tôi.
Thực tế hoàn toàn ngược lại với e ngại đó. Anh Quang là một trong những người ủng hộ tôi nhiệt thành nhất, từ việc chọn thơ, xây dựng kịch bản đến trình diễn. Ngoài phần thuyết trình về bản dịch, anh còn nhận vai học giả trong Hoa Trôi. Đến với chương trình không chỉ có những độc giả lâu năm của Kiều, mà còn có những khán giả quốc tế có thể chưa biết gì về tác phẩm. Góc nhìn truyền thống và phần trình bày của anh Quang vì thế mang lại một nền tảng tri thức quan trọng, lại rất sinh động và dễ tiếp cận. Tôi đặc biệt biết ơn anh vì sau buổi nói chuyện, cậu con trai 18 tuổi của tôi đã tự thốt lên: “Lịch sử Việt Nam hoá ra thú vị quá”. Dự án không chỉ giúp tôi kết nối lại với Kiều, với bản thân và với những số phận tha hương khác, mà còn giúp con trai tôi kết nối với một phần căn tính văn hoá của tôi.
Nhiều người tự trói buộc bằng một lằn ranh chiến tuyến giữa truyền thống và đương đại, bảo tồn và sáng tạo. Thực tế, truyền thống và cái mới cũng có thể tiếp sức sống cho nhau mà không nhất thiết và không nên là kẻ thù của nhau. Một môi trường lành mạnh cần có sự hiện diện của những sự khác biệt. Cả truyền thống và cái mới đều không nằm ngoài quy luật của thời gian - có những thứ còn lại, có những thứ thay đổi, và có những thứ biến mất.

- Là một trình diễn về Truyện Kiều nhưng “Hoa Trôi” không có nhân vật nào là nàng Kiều, không sử dụng đàn dân tộc, thậm chí không ai mặc trang phục truyền thống. Tại sao vậy?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Tôi chỉ sử dụng khoảng 2 phút trình diễn âm thanh mộc bằng vỗ trống ngẫu hứng, chứ không sử dụng âm nhạc. Trình diễn thơ đa hình thức thực chất là dùng tính chất tự do của nghệ thuật trình diễn đương đại để đưa sự hiện diện của tác phẩm văn chương ra khỏi không gian trang giấy. Linh hồn của tác phẩm, đầu tiên và cuối cùng, vẫn phải là thơ, được thể hiện qua nhiều hình thức chứ không bị che lấp hay hoà tan vào những hình thức nghệ thuật khác.
Tôi không xây dựng một hình ảnh nàng Kiều cụ thể, mà xây dựng một không gian mở để có thể được nhìn thấy thật nhiều phiên bản nàng Kiều được sáng tạo nên từ tâm trí của mỗi người trình diễn và của mỗi khán giả.
Tiếp cận đề tài văn hoá truyền thống Việt Nam, không nhất thiết cứ luôn phải có áo dài, nón lá, đàn bầu, ruộng lúa, con trâu, sáo diều… như những tấm bưu thiếp bán cho khách du lịch. Tôi cũng không muốn người trình diễn “đóng giả” thành ai xa lạ. Chúng tôi mặc những bộ quần áo hằng ngày mặc đi dạy hoặc cà phê, dạo phố ở Berlin, chúng tôi không trang điểm thành người khác, mà mang lên sân khấu cả đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ, cùng những buồn vui của cuộc sống thường nhật, nỗi bất an trước bầu trời vần vũ của không khí chiến tranh và sự lớn mạnh trở lại của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, giá cả sinh hoạt tăng và tài trợ của chính phủ cho văn học nghệ thuật giảm, những câu hỏi về sự đổi thay của văn hoá đọc, niềm kinh ngạc và sự kinh hãi trước quyền lực của AI… Đó chính là bối cảnh của “Hoa Trôi”.


- Tại sao trong bối cảnh hiện đại ấy lại có màn trình diễn thư pháp?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Việc trình diễn viết chữ đa ngôn ngữ chỉ là một phần trong cả chuỗi những cách thể hiện văn bản.
Là người được đào tạo về ngôn ngữ và văn chương, lại là người thực hành trình diễn thơ đương đại, tôi đặc biệt quan tâm đến các hình thức hiện diện của văn bản văn học từ cổ xưa tới nay. Về mặt ngôn ngữ, trình diễn “Hoa Trôi” là một hành trình của các hình thức văn bản của Truyện Kiều, từ phi văn bản, văn bản viết đến không gian ba chiều: Ngâm thơ - chữ Nôm - tiếng Việt hiện đại - tiếng Đức - tiếng Anh - âm thanh - không gian - cơ thể - chuyển động. Mỗi một hình thức hiện diện của văn bản lại đem đến cho văn bản một đời sống riêng.
Truyện Kiều được Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm. Nhân vật của tôi không phải một nhà thư pháp, mà là một phụ nữ hiện đại học viết chữ Nôm như một trong những cách tìm hiểu văn bản Kiều. Cá nhân tôi thấy khá tiếc nuối trước sự đứt gãy kết nối với chữ Hán - Nôm của việc giảng dạy tiếng Việt hiện đại. Chữ Hán - Nôm là một phần quan trọng trong lịch sử hình thành tiếng Việt, có một hiểu biết cơ bản về nó giúp chúng ta cảm nhận tiếng Việt sâu sắc hơn, cũng như trao truyền thêm sức sống cho những văn bản cổ.
Một hình thức hiện diện văn bản nữa của Kiều là ngâm Kiều. Ngâm là một kiểu trình diễn thơ cổ truyền và độc đáo của người Việt, nó đã có từ trước cả sự xuất hiện của văn bản giấy và tồn tại song song đến tận ngày nay. Khi thử giọng, chị Nga có ngâm cho tôi một số cách. Tôi nói chị đừng ngâm theo lối hiện đại, mà hãy ngâm như ngày xưa bà và mẹ ngâm Kiều cho chị nghe.
Một khám phá nữa của tôi là cảm nhận về Kiều qua phần trình diễn tiếng Anh của Alisa và phần trình diễn tiếng Đức của Amelie lại khác nhau đến thế. Cùng là hai phụ nữ nước ngoài có một phần dòng máu Việt, nhưng Alisa và Amelie đã mang vào phần trình diễn của mình hai nền văn hoá, thế hệ, trải nghiệm và cá tính hoàn toàn khác biệt. Họ không đơn thuần đọc hai bản dịch, mà thể hiện hai căn tính khác nhau của một văn bản.
Trình diễn đương đại rất chú trọng vào việc mở rộng định nghĩa về không gian trình diễn, cũng như những tương tác mang tính trải nghiệm của cơ thể. Khi khán giả bước vào phòng, nếu muốn, họ có thể để lại dấu vân tay lăn qua mực son trên giấy thư pháp, trực tiếp cảm nhận chất liệu giấy qua tiếp xúc với da của mình. Cuộn giấy với những dấu vân tay này sau đó trở thành chính không gian diễn ra “Hoa Trôi”. Trong phần “Sóng”, khán giả nối tiếp nhau đọc một câu thơ trong Truyện Kiều, và như vậy, giọng nói của họ trở thành một phần sóng của Truyện Kiều, theo những cách của riêng họ.

- “Đọc gì cũng là tìm cách đọc chính mình.” Vậy sau khi đọc Kiều, chị đã đọc được thêm điều gì về chính mình mà trước đó chị chưa nhìn thấy? Và nếu một khán giả của “Hoa Trôi” cũng là một người phụ nữ đang cảm thấy mình bị đẩy rất xa khỏi cuộc đời của chính mình, chị muốn cô ấy mang theo điều gì khi bước ra khỏi buổi trình diễn?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Mỗi người có một cá tính, những mất mát, mơ ước riêng, cùng những băn khoăn phải tự tìm cách đi qua, những lựa chọn phải tự chịu trách nhiệm. Tôi không có lời khuyên nào cho ai cả. Bản thân tôi, qua quá trình làm dự án, buộc phải tìm hiểu về bản thân trong quan hệ với tác phẩm, tôi chợt nhận thấy một đường mối kết nối lại với cuộc sống, như bám được vào một cái rễ cây lâu năm trên vách đá khi đi qua bờ vực vậy. Sợi rễ mong manh, nhưng cho tôi cảm giác là mình vẫn có thể tiếp tục đi từng bước về phía trước. Tôi cũng học lại cách kết nối với người khác qua việc lắng nghe cách họ thể hiện bản thân thông qua cách đọc tác phẩm. Tôi trải nghiệm sự chấp nhận và trân trọng những sự khác biệt quanh mình. Đó là một bài học đẹp nhưng luôn khó khăn và không có kết thúc.
- Cuối cùng, nếu hôm nay được gặp Kiều của 200 năm trước, chị sẽ nói gì với nàng?
- Nhà thơ Dạ Thảo Phương: Tôi không muốn nói gì với Kiều cả. Nếu được gặp cô ấy, tôi chỉ muốn ngồi xuống bên cạnh, giữ một khoảng cách vừa phải, mỗi người cầm một tách trà. Và lắng nghe thời gian trôi qua.
- Xin cảm ơn chị!

Góc nhìn chuyên gia - Sophia Nguyen (thực hiện từ Berlin)
Nhìn chung, văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn học và nghệ thuật vẫn chưa hiện diện nhiều trong đời sống của người Đức. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người Đức quan tâm đến Việt Nam hơn. Tôi đã rất háo hức chờ đợi chương trình này. Và quả thực, trình diễn đã khiến tôi bất ngờ! Tôi thấy cách nhìn Kiều như một bông hoa trôi trên mặt nước, từ nơi này sang nơi khác, là một góc nhìn rất thú vị. Trình diễn tạo ra sự hồi hộp, khiến tôi luôn muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nó cũng để lại cho tôi một khoảng lặng để suy ngẫm. Tôi thấy rất thú vị khi được chứng kiến cách trình bày một văn bản thơ bằng các ngôn ngữ khác nhau có thể khác biệt về căn bản đến như thế nào. Khán giả đã theo dõi trình diễn một cách chăm chú, hào hứng, và sau chương trình có rất nhiều phản hồi tích cực. Trình diễn thậm chí có thể góp phần khơi mở thêm những dự án khác xoay quanh Kiều. Trong số đó, hoạ sĩ Claudia Borchers, người đã thiết kế bìa cho bản dịch tiếng Đức của Truyện Kiều, đã đặc biệt thích thú và ngay lập tức cảm thấy có động lực để thực hiện thêm các minh họa cho cuốn sách. Mới đây tôi đã đọc bản dịch tiếng Đức của Truyện Kiều. Đây là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam mà tôi đọc.
Kỹ sư Tobias Firsching
Khi Nga bắt đầu ngâm Kiều, Quang và tôi nhìn nhau rồi cùng gật đầu tán thưởng. Nga và tôi đã nhiều năm cùng đi biểu diễn khắp châu Âu, tôi rất hiểu cô ấy. Tôi có thể cảm nhận được rằng tối hôm đó Nga đã trình diễn bằng cả trái tim. Trong vài câu Kiều ngắn ngủi ấy, Nga không chỉ đưa vào kinh nghiệm nghệ thuật mà còn gửi gắm rất nhiều cảm xúc từ những thăng trầm trong chính cuộc đời mình. Điều đó thực sự khiến tôi xúc động.
Phương đã có một ý tưởng tuyệt vời và khá khác thường khi đề nghị tôi chơi một tiết mục solo ngẫu hứng bằng trống Việt Nam hoàn toàn bằng tay, không dùng dùi. Với tôi, đó là một trải nghiệm mới và rất thú vị.Nghệ sĩ Lê Hùng (Lotus Ensemble)
Tôi đã rất thích thú và học hỏi được nhiều điều từ chương trình này. Phần thuyết trình học thuật của tiến sĩ Trương Hồng Quang thật sự xuất sắc. Sự kết hợp giữa âm nhạc, thuyết trình học thuật và trình diễn đương đại rất thú vị. Cách ngâm và đọc thơ, hành động viết chữ bằng các ngôn ngữ là một cách làm rất mới mẻ. Tôi rất mong chờ buổi thứ hai. Sau trình diễn, tôi đã mua một cuốn Truyện Kiều bằng tiếng Đức, bản dịch thực sự rất thành công. Tính kịch, nhịp điệu và ngôn ngữ giàu hình ảnh khiến tác phẩm hiện lên sinh động, cuốn độc giả vào một hành trình mang ý nghĩa phổ quát của con người.
Nhà sử học Helmut Bräutigam