Kinh tế

Từ Nobel Kinh tế 2026, nghĩ về động lực tăng trưởng của Việt Nam

Nguyễn Tuyết • 14/10/2026 09:11

Giải Nobel Kinh tế 2026 vinh danh Robert E. Hall và Michael Woodford vì những đóng góp nền tảng về mối quan hệ giữa hành vi kinh tế vi mô và sự ổn định vĩ mô. Sự kiện này mang lại nhiều gợi mở quan trọng cho Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế ghi nhận đà tăng trưởng 9 tháng ấn tượng đạt 9,01%, nhưng cũng đối mặt với thách thức nhập siêu 19,42 tỷ USD và áp lực chi phí tăng.

Mùa Nobel Kinh tế 2026 khép lại với thông điệp mạnh mẽ về tầm quan trọng của việc thấu hiểu hành vi của doanh nghiệp và người dân trong thiết kế chính sách vĩ mô. Tại Việt Nam, các chỉ số vĩ mô 9 tháng đầu năm vừa được công bố ghi nhận sức bật đáng kinh ngạc.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng là yêu cầu cấp thiết về việc cải thiện chất lượng tăng trưởng, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng nội địa và củng cố thể chế trước các cơ hội hội nhập mới như nâng hạng thị trường chứng khoán hay tham gia chuỗi giá trị AI toàn cầu.

buiquangxuan.jpg
TS. Bùi Quang Xuân.

Để có cái nhìn đa chiều về vấn đề này, Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với TS. Bùi Quang Xuân (hiện công tác tại Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia và giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai) về cách vận dụng tri thức hiện đại để giải bài toán chất lượng tăng trưởng, kiểm soát kỳ vọng lạm phát và kiến tạo động lực phát triển bền vững cho Việt Nam.

Nobel Kinh tế gợi mở bài toán điều hành vĩ mô của Việt Nam

- Thưa TS. Bùi Quang Xuân, Giải Nobel Kinh tế năm 2026 đã vinh danh hai nhà kinh tế học Robert E. Hall và Michael Woodford vì những đóng góp về nền tảng kinh tế vi mô của ổn định kinh tế vĩ mô. Theo Tiến sĩ, sự kiện này mang lại những gợi mở quan trọng nào cho việc điều hành kinh tế của Việt Nam hiện nay?

TS. Bùi Quang Xuân: Giải Nobel Kinh tế năm nay tiếp tục khẳng định một lý thuyết quan trọng: hiệu quả của chính sách ổn định vĩ mô phụ thuộc rất lớn vào hành vi và quyết định của các chủ thể kinh tế vi mô (doanh nghiệp, hộ gia đình).

Từ sự kiện này nhìn về Việt Nam, chúng ta đang đứng trước những câu hỏi lớn: Làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà không tạo ra các mất cân đối kéo dài? Làm sao để nâng cao hiệu quả điều hành khi hành vi thị trường thay đổi nhanh chóng? Và quan trọng nhất là làm sao biến công nghệ thành năng suất, giá trị gia tăng cùng sự thịnh vượng thực chất?

Đây không chỉ là câu chuyện của các mô hình lý thuyết, mà nó đang hiện diện trực tiếp trong các con số tăng trưởng, dòng vốn đầu tư và tiến trình chuyển đổi số của nền kinh tế.

“

Thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà là phải nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố sức chống chịu của nền kinh tế.

TS. Bùi Quang Xuân

- Nhìn vào bức tranh vĩ mô, GDP 9 tháng đầu năm 2026 ước tăng 9,01%, riêng quý III tăng tới 9,95% và vốn FDI thực hiện đạt mức kỷ lục 21,07 tỷ USD. Ngân hàng Thế giới cũng vừa nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam lên 7,4%. Bên cạnh những con số ấn tượng này, Tiến sĩ nhìn nhận thế nào về chất lượng tăng trưởng?

TS. Bùi Quang Xuân: Những con số này thể hiện sức bật rất đáng ghi nhận của nền kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc mọi vấn đề đã được giải quyết.

Nếu nhìn sâu hơn, 9 tháng qua tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888,02 tỷ USD nhưng cán cân thương mại hàng hóa lại nhập siêu 19,42 tỷ USD. Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,52%.

Nhập khẩu tăng có thể cho thấy nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất tăng mạnh, nhưng đồng thời cũng phản ánh mức độ phụ thuộc cao vào nguồn đầu vào bên ngoài và năng lực tạo giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.

Thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà là phải nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố sức chống chịu của nền kinh tế.

- Từ góc độ nghiên cứu được giải Nobel 2026 vinh danh, bài toán điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng ở Việt Nam cần lưu ý những điều gì, thưa Tiến sĩ?

TS. Bùi Quang Xuân: Nghiên cứu của Hall và Woodford chỉ ra rằng quyết định lãi suất không chỉ tác động đến chi phí vay hiện tại mà còn dẫn dắt "kỳ vọng" của thị trường về tương lai.

Đối với Việt Nam, điều này đòi hỏi chính sách tiền tệ phải duy trì sự cân bằng khéo léo giữa hỗ trợ sản xuất - kinh doanh và kiểm soát rủi ro lạm phát, tín dụng.

Mở rộng tín dụng không tự động tạo ra tăng trưởng chất lượng nếu dòng vốn chảy vào các hoạt động kém hiệu quả hoặc tích tụ rủi ro tài chính.

Nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ với tài khóa và giữ thông tin điều hành minh bạch, nhất quán chính là chìa khóa để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

- Hiện nay, việc ứng dụng "Kinh tế học hành vi" đang được nhắc đến nhiều như một hướng đi mới giúp chính sách đi vào cuộc sống. Tiến sĩ đánh giá sao về vấn đề này?

TS. Bùi Quang Xuân: Đúng vậy. Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp chưa thể phản ánh hết cách người dân hay doanh nghiệp ra quyết định, bởi hành vi của họ chịu tác động lớn từ tâm lý, thói quen và sự tin cậy.

Chẳng hạn, muốn thúc đẩy thanh toán số hay khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, ngoài hạ tầng hay hỗ trợ tài chính, điều quan trọng là giúp họ thấy an toàn, thuận tiện và được tư vấn sát với năng lực thực tế.

Ở cấp quản lý, thay vì áp dụng một chính sách chung cho tất cả, việc thí điểm, đo lường và điều chỉnh dựa trên bằng chứng thực tế sẽ giúp chính sách phát huy hiệu quả cao hơn. Chính sách chỉ thành công khi người thụ hưởng hiểu, tin và có khả năng tiếp cận.

Nobel kinh te
Robert E. Hall và Michael Woodford được công bố là những người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2026 tại Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển ở Stockholm, Thụy Điển. Ảnh: Reuters

Biến cơ hội công nghệ thành năng lực nội tại

- Năm 2026 ghi nhận việc Việt Nam hưởng lợi lớn từ nhu cầu quốc tế đối với các sản phẩm liên quan đến AI (chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu công nghệ theo báo cáo của WB). Làm thế nào để chúng ta biến cơ hội này thành năng lực phát triển nội tại bền vững?

TS. Bùi Quang Xuân: Đây là cơ hội rất lớn, nhưng nếu chúng ta chỉ dừng lại ở khâu gia công, lắp ráp và phụ thuộc linh kiện bên ngoài thì giá trị giữ lại trong nước sẽ rất thấp.

Để chuyển cơ hội thành năng lực dài hạn, Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn cho R&D, thiết kế, kỹ năng công nghệ và công nghiệp hỗ trợ. Quan trọng hơn, công nghệ không thể tự tạo ra thịnh vượng nếu thiếu con người có kỹ năng và thể chế phù hợp.

Đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề và học tập suốt đời phải được coi là cốt lõi của chiến lược phát triển công nghệ.

“

Chính sách chỉ thành công khi người thụ hưởng hiểu, tin và có khả năng tiếp cận.

TS. Bùi Quang Xuân

- Cuối cùng, với lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi đang được triển khai, Tiến sĩ có khuyến nghị gì về việc củng cố niềm tin của nhà đầu tư?

-TS. Bùi Quang Xuân: Việc nâng hạng mở ra cơ hội thu hút dòng vốn danh mục lớn, nhưng kết quả phụ thuộc vào tiến trình cải cách thực tế. Muốn giữ chân dòng vốn dài hạn, thị trường phải nâng cao chất lượng công bố thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và thực thi quy định một cách nhất quán.

Tóm lại, từ bài học Nobel Kinh tế 2026, giá trị thiết thực nhất đối với Việt Nam là khả năng vận dụng tri thức để giải quyết bài toán của chính mình: kết hợp đồng bộ giữa ổn định vĩ mô, thể chế đáng tin cậy, nguồn nhân lực chất lượng và ứng dụng công nghệ thực chất.

Đó là con đường duy nhất để biến tăng trưởng kinh tế thành sự thịnh vượng lâu dài.

Xin cảm ơn Tiến sĩ về cuộc trò chuyện ý nghĩa này!

Nguyễn Tuyết