Thời sự

Phó Chủ tịch VASTI: Cần thiết bị dùng chung để công nghệ sinh học vượt qua giai đoạn sản xuất thử

Trang Trần - Hà Tuấn • 14/10/2026 15:57

Theo Phó chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam Lê Thị Khánh Vân, muốn phát triển kinh tế sinh học, cần giải quyết khoảng trống giữa phòng thí nghiệm và sản xuất quy mô lớn, trong đó có việc xây dựng các cơ sở thiết bị dùng chung để doanh nghiệp và nhà khoa học thử nghiệm công nghệ trước khi đầu tư.

Việt Nam có nguồn nguyên liệu sinh học phong phú từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các phụ phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến. Đây là nền tảng để phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng cao như chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp, vật liệu sinh học, sản phẩm chăm sóc sức khỏe và các giải pháp xử lý môi trường. Tuy nhiên, lợi thế về tài nguyên và những tiến bộ trong nghiên cứu chưa tự động chuyển thành năng lực sản xuất, kinh doanh tương xứng.

Thực trạng này cũng được phản ánh trong Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học. Theo đánh giá tại văn bản, dù công nghệ sinh học đã đạt một số kết quả trong nông nghiệp, y tế và môi trường, mối liên kết giữa nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất và thị trường vẫn còn rời rạc. Nguồn lực đầu tư còn phân tán, số doanh nghiệp công nghệ sinh học có khả năng dẫn dắt chưa nhiều, trong khi năng lực tự chủ đối với một số sản phẩm sinh học thiết yếu còn hạn chế.

Ngày 2/2/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 208/QĐ-TTg, phê duyệt đề án thống kê, đánh giá tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Việc có một đề án thống kê riêng cho thấy yêu cầu lượng hóa đóng góp của lĩnh vực này, qua đó tạo cơ sở cho hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực.

Trong bối cảnh đó, bài toán không dừng ở việc tạo ra thêm các kết quả nghiên cứu, mà là làm thế nào đưa chúng vượt qua giai đoạn thử nghiệm để trở thành sản phẩm có thể sản xuất, tiêu thụ và cạnh tranh trên thị trường. Theo Phó chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) Lê Thị Khánh Vân, một nút thắt đáng chú ý nằm ở khoảng trống giữa phòng thí nghiệm và sản xuất quy mô lớn, khi nhà khoa học và doanh nghiệp thiếu điều kiện để thử nghiệm công nghệ trước khi quyết định đầu tư.

Chia sẻ với phóng viên Một Thế giới, bà Lê Thị Khánh Vân cho biết, sau nhiều năm làm công tác hỗ trợ chuyển giao công nghệ, điều khiến bà trăn trở là không ít đề tài dừng lại ở khâu nghiệm thu, sau đó nằm trong ngăn kéo hoặc tủ lưu trữ, thay vì tiếp tục được phát triển để ứng dụng trong thực tiễn.

Phó Chủ tịch VASTI: Cần thiết bị dùng chung để công nghệ sinh học vượt qua giai đoạn sản xuất thử
Phó chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam Lê Thị Khánh Vân

Với kinh tế sinh học, vấn đề này càng đáng chú ý bởi các công nghệ thường gắn với nguyên liệu sinh học, quy trình sản xuất, yêu cầu về chất lượng và điều kiện vận hành cụ thể. Một kết quả nghiên cứu có thể có triển vọng về mặt khoa học nhưng vẫn cần được kiểm chứng trong điều kiện sản xuất thực tế trước khi doanh nghiệp quyết định đầu tư.

Bà Vân cho rằng giai đoạn sản xuất thử nghiệm là một trong những mắt xích cần được chú trọng. Sau khi hoàn thành nghiên cứu, nhà khoa học và doanh nghiệp vẫn phải giải quyết bài toán làm thế nào để đưa công nghệ ra khỏi quy mô phòng thí nghiệm, vận hành ổn định hơn và tiến tới sản xuất đại trà.

Nếu thiếu bước trung gian này, rủi ro đầu tư sẽ tăng lên. Doanh nghiệp khó đánh giá đầy đủ hiệu quả của công nghệ trong điều kiện thực tế, còn nhà khoa học thiếu cơ sở để chứng minh rằng kết quả nghiên cứu có thể đáp ứng yêu cầu sản xuất và thị trường.

Thiết bị dùng chung để vượt qua giai đoạn sản xuất thử

Một giải pháp được bà Lê Thị Khánh Vân nhấn mạnh là phát triển các cơ sở có thiết bị dùng chung, hỗ trợ nhà khoa học và doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ trước khi mở rộng sản xuất.

Theo bà, mô hình này có thể cung cấp thiết bị phục vụ thử nghiệm cho nhiều đơn vị, thay vì yêu cầu từng nhóm nghiên cứu hoặc doanh nghiệp phải tự đầu tư toàn bộ dây chuyền ngay từ đầu. Bà dẫn ví dụ về các cơ sở hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến, nơi có sẵn thiết bị phục vụ những công đoạn sản xuất cụ thể, trong đó có dây chuyền chế biến nông sản.

Đối với các công nghệ sinh học có liên quan đến nông nghiệp, chế biến hoặc phát triển sản phẩm từ nguyên liệu sinh học, khả năng tiếp cận thiết bị phù hợp có ý nghĩa quan trọng. Nhà khoa học có thể kiểm tra quy trình trong điều kiện gần với sản xuất hơn; doanh nghiệp có thêm dữ liệu để đánh giá chất lượng, chi phí và khả năng mở rộng trước khi quyết định đầu tư lớn.

Bà Vân cho rằng các cơ sở như vậy cần được nhân rộng tại những địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, nông sản hoặc công nghiệp. Thời gian hỗ trợ thử nghiệm có thể kéo dài 6, 9 hoặc 12 tháng, tùy nhu cầu và đặc điểm của công nghệ.

Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở việc chia sẻ chi phí thiết bị. Quan trọng hơn, đây là một bước đệm để giảm rủi ro trong quá trình thương mại hóa. Thay vì phải lựa chọn giữa hai phương án tốn kém - tiếp tục nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hoặc đầu tư ngay một dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh - các bên có thể thử nghiệm, điều chỉnh và đánh giá công nghệ trước khi đưa ra quyết định.

Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, thiết bị dùng chung cần gắn với đội ngũ vận hành, chuyên gia tư vấn, quy trình kiểm định và cơ chế tiếp nhận nhu cầu từ doanh nghiệp. Nếu chỉ đầu tư máy móc mà không có đơn vị kết nối và hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở có nguy cơ không được khai thác đúng mức hoặc không giải quyết được những khó khăn thực tế của các dự án.

Đặt hàng nghiên cứu từ nhu cầu thị trường

Bên cạnh khoảng trống về sản xuất thử nghiệm, bà Vân cho rằng một nguyên nhân khiến kết quả nghiên cứu khó thương mại hóa là hoạt động nghiên cứu đôi khi chưa bắt đầu từ nhu cầu cụ thể của thị trường.

Theo bà, thay vì để nhà khoa học tự lựa chọn đề tài rồi mới tìm cách đưa sản phẩm ra thị trường, cần khảo sát nhu cầu của doanh nghiệp từ sớm, sau đó chuyển những nhu cầu này thành bài toán nghiên cứu. Bà gọi cách tiếp cận đó là “đặt hàng ngược”: thị trường đặt ra vấn đề, còn hoạt động nghiên cứu tập trung tìm lời giải.

Với kinh tế sinh học, cách tiếp cận này có thể giúp xác định rõ hơn doanh nghiệp cần loại nguyên liệu, quy trình, công nghệ hoặc sản phẩm nào; yêu cầu về chất lượng ra sao; mức chi phí có thể chấp nhận là bao nhiêu và thị trường đầu ra nằm ở đâu.

Một kết quả nghiên cứu chỉ có cơ hội trở thành sản phẩm thương mại khi giải quyết được nhu cầu thực tế và có phương án sản xuất khả thi. Vì thế, ngay từ giai đoạn đầu, nhà khoa học cần làm rõ công nghệ của mình khác biệt ở điểm nào, giải quyết vấn đề gì mà thị trường chưa đáp ứng tốt và nhà đầu tư có thể thu hồi vốn trong điều kiện nào.

Đây cũng là lý do vai trò của các tổ chức trung gian trở nên quan trọng. Theo bà Vân, đơn vị kết nối phải hiểu cả công nghệ lẫn thị trường, đồng thời bảo đảm lợi ích hài hòa giữa nhà khoa học và doanh nghiệp. Nhà khoa học có thể nắm giữ công nghệ, còn doanh nghiệp có năng lực tổ chức sản xuất, vốn và thị trường; hai bên cần hợp tác trên cơ sở cùng có lợi thay vì đặt lợi ích của một phía lên trên phía còn lại.

Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) có thể tham gia vào quá trình này thông qua khai thác dữ liệu nghiên cứu, cung cấp thông tin công nghệ, kết nối chuyên gia và hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp phù hợp. Bà Vân cũng nhấn mạnh vai trò của việc số hóa dữ liệu nghiên cứu và tăng cường truyền thông để doanh nghiệp, nhà đầu tư và các cá nhân có nhu cầu khởi nghiệp biết đến những nguồn thông tin, nền tảng kết nối hiện có.

Theo bà, Việt Nam đã có các sàn giao dịch công nghệ và cơ sở dữ liệu phục vụ kết nối cung cầu, nhưng mức độ khai thác còn hạn chế. Nếu doanh nghiệp không có thói quen tìm kiếm thông tin tại những địa chỉ này, còn nhà khoa học không biết cách giới thiệu công nghệ theo nhu cầu của thị trường, thì các nền tảng khó phát huy hết hiệu quả.

Phát triển kinh tế sinh học vì vậy không chỉ là thúc đẩy thêm các đề tài nghiên cứu hay khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ. Vấn đề cốt lõi là xây dựng được một chuỗi liên kết đủ chặt từ nhu cầu thị trường, nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ đến sản xuất và phân phối.

Trong chuỗi đó, cơ sở thiết bị dùng chung giúp giảm rủi ro khi thử nghiệm; cơ chế đặt hàng ngược giúp nghiên cứu đi đúng nhu cầu; còn dữ liệu và tổ chức trung gian tạo điều kiện để nhà khoa học tìm được doanh nghiệp phù hợp. Khi các mắt xích này vận hành đồng bộ, kết quả nghiên cứu mới có cơ hội vượt qua giới hạn của phòng thí nghiệm để trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế.

Trang Trần - Hà Tuấn