Chiều nay (15/10), diễn ra Hội thảo 'Kinh tế sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số'
Với Việt Nam, việc khai thác các thành tựu nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sinh học để phục vụ phát triển kinh tế là hướng đi tất yếu nhằm vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Kỳ vọng cao, hiện thực khiêm tốn
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế sinh học đang nổi lên như một trục chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển. Không chỉ giới hạn trong phạm vi các phòng thí nghiệm nghiên cứu hay những bài báo khoa học hàn lâm, công nghệ sinh học giờ đây đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, mang lại những giá trị kinh tế khổng lồ thông qua việc tối ưu hóa tài nguyên sinh học, phát triển y sinh học hiện đại, nông nghiệp thông minh và các vật liệu sinh học thay thế thân thiện với môi trường.
Đối với Việt Nam, một quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng đa dạng sinh học cao, việc khai thác các thành tựu nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sinh học phục vụ phát triển kinh tế sinh học là một hướng đi tất yếu, mang tính chiến lược dài hạn nhằm vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học sẽ đóng góp từ 10 đến 15% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia diễn ra ngày 13/01/2025 tại Hội trường Diên Hồng, Tổng bí thư Tô Lâm nhấn mạnh các công nghệ mũi nhọn có tính đột phá lớn như công nghệ sinh học (bao gồm công nghệ gen, y sinh, nông nghiệp công nghệ cao) phải được coi trọng để tạo ra năng suất và giá trị gia tăng thực sự.

Nền kinh tế sinh học của Việt Nam trong những năm gần đây có những bước tiến nhưng đồng thời cũng còn không ít khoảng cách đáng kể khi so sánh trên bình diện quốc tế. Trên thế giới, quy mô của kinh tế sinh học đang mở rộng với tốc độ chóng mặt, đóng góp hàng nghìn tỉ USD vào GDP toàn cầu và tạo ra hàng chục triệu việc làm chất lượng cao. Cụ thể, quy mô nền kinh tế sinh học hiện đã đạt 5 nghìn tỉ USD, và được dự báo đạt tới 30 nghìn tỉ USD vào năm 2050.
Theo các báo cáo và thống kê quốc tế từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nhiều quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ đã đạt tỉ trọng kinh tế sinh học từ 10% đến hơn 20% tổng GDP quốc gia, với mức đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) sinh học chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách công nghệ quốc gia.
Tại Việt Nam, chưa có con số chính thức về quy mô kinh tế sinh học, nhưng với GDP hiện khoảng 514 tỉ USD và kinh tế sinh học còn chưa đạt mục tiêu đóng góp 10% GDP, thì quy mô của nó chắc chắn rất nhỏ bé so với thế giới. Dù tiềm năng từ nguồn gen bản địa và điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho công nghệ sinh học nông nghiệp, thủy sản và dược liệu là rất lớn, mức độ đóng góp trực tiếp của kinh tế sinh học vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.
Nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo trong nước đã làm chủ được các kỹ thuật nền tảng quan trọng như công nghệ gene, nuôi cấy mô tế bào, lên men vi sinh và sản xuất vắc-xin, chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp và y tế. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân so sánh với các cường quốc kinh tế sinh học như Hoa Kỳ, các nước EU hay một số quốc gia tại khu vực châu Á như Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc, Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu của tiến trình chuyển dịch.
Trong khi các quốc gia tiên tiến đã tích hợp sâu rộng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào quản trị chuỗi giá trị sinh học tuần hoàn, hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều đứt gãy. Các nghiên cứu khoa học công nghệ xuất sắc tại các viện trường thường dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc các bài báo công bố quốc tế, thiếu vắng các bước đệm thử nghiệm thương mại, dẫn đến tình trạng lãng phí tài sản trí tuệ và bỏ lỡ cơ hội chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế thực tiễn.
Kinh tế sinh học - lời giải của bài toán chuyển dịch mô hình kinh tế chiều sâu
Sự cần thiết phải đẩy mạnh lĩnh vực kinh tế sinh học tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã được nhiều chuyên gia kinh tế và nhà quản lí khoa học công nghệ đặc biệt nhấn mạnh. Mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô đang dần chạm tới ngưỡng giới hạn, đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển dịch mô hình sang chiều sâu, dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao.
Kinh tế sinh học chính là lời giải tối ưu cho bài toán này, bởi nó vừa giải quyết được áp lực về an ninh lương thực, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về phát triển xanh và giảm phát thải ròng. Theo khuyến nghị từ các chuyên gia đầu ngành, để khơi thông nguồn lực này, Việt Nam cần có những chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu sinh học, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng thời thiết lập các hành lang pháp lí thông thoáng để thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm vào lĩnh vực công nghệ sinh học rủi ro cao nhưng tiềm năng lợi nhuận lớn.
Mặc dù tiềm năng rộng mở, con đường hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế sinh học tại Việt Nam đang gặp không ít điểm nghẽn trầm trọng cần được tháo gỡ kịp thời. Điểm nghẽn đầu tiên và lớn nhất nằm ở cơ chế, chính sách tài chính và định giá tài sản trí tuệ hình thành từ Ngân sách Nhà nước. Các quy định pháp luật về quản lí, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ trong các cơ quan nghiên cứu công lập vẫn khiến các nhà khoa học và các viện trường lúng túng, thậm chí e ngại rủi ro pháp lí khi tiến hành hợp tác thương mại hóa với khối doanh nghiệp.
Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu vắng một thị trường kết nối cung - cầu công nghệ sinh học thực chất và đồng bộ. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vẫn quen với việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài hoặc sử dụng phương thức sản xuất truyền thống, thiếu niềm tin vào năng lực của các nhà khoa học trong nước, trong khi các nhà khoa học lại thiếu thông tin thị trường và kỹ năng quản trị kinh doanh để đưa sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng. Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm mẫu và thương mại hóa thử nghiệm còn vô cùng hạn chế, chưa hình thành được các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt cho lĩnh vực công nghệ sinh học đầy tiềm năng nhưng nhiều rủi ro kỹ thuật này.
Để giải quyết những điểm nghẽn nêu trên, đòi hỏi phải có sự chung tay hành động đồng bộ từ cả hệ thống chính trị, cơ quan quản lí nhà nước, viện trường và cộng đồng doanh nghiệp thông qua một hệ thống giải pháp toàn diện.
Trước hết, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lí về sở hữu trí tuệ, trao quyền tự chủ thực chất cho các viện nghiên cứu và trường đại học trong việc định giá, quyết định chuyển giao hoặc góp vốn bằng tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước. Cần có các cơ chế tài chính ưu đãi, quỹ hỗ trợ rủi ro cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ sinh học, tạo động lực vật chất và tinh thần thỏa đáng cho các nhà khoa học.
Bên cạnh đó, việc xây dựng và củng cố hệ sinh thái kết nối cung - cầu công nghệ thông qua các sàn giao dịch công nghệ, các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sinh học là điều kiện tiên quyết để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra thị trường thương mại. Doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí trung tâm, đóng vai trò là nhà đặt hàng và đồng hành cùng các nhà khoa học ngay từ khâu lên ý tưởng nghiên cứu để đảm bảo sản phẩm làm ra đáp ứng đúng nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Chính trong bối cảnh nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức ấy, việc tổ chức Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” vào thời điểm này mang ý nghĩa thời sự vô cùng cấp thiết. Sự kiện do Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI), Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) phối hợp tổ chức chiều nay (15/10) vừa là một diễn đàn học thuật, vừa là cầu nối chiến lược quy tụ các nhà quản lí, chuyên gia hàng đầu, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư và khối doanh nghiệp.
Hội thảo đóng vai trò là tiếng nói định hướng chính sách, là nơi mổ xẻ trực diện các điểm nghẽn trong định giá và chuyển giao công nghệ, đồng thời đề xuất những mô hình hợp tác công - tư hiệu quả nhằm khai thác triệt để tiềm năng kinh tế sinh học của đất nước.
Việc tổ chức sự kiện ngay trong thời điểm này sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đưa kinh tế sinh học thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số.

