GS. TS. Lê Văn Hòa: Nhà khoa học kiến tạo giá trị nông nghiệp ĐBSCL
Nghiên cứu sinh lí thực vật, nhân giống và bảo quản nông sản, GS. TS. Lê Văn Hòa đóng góp cho nông dân ĐBSCL thiết thực.
Từ phòng thí nghiệm đến sản xuất nông nghiệp
Hành trình khoa học của GS. TS. Lê Văn Hòa gắn với nghiên cứu quy luật sinh trưởng cây trồng, tạo cơ sở khoa học cho sản xuất. Là nhà khoa học thuộc Bộ môn Sinh lí - Sinh hóa cây trồng, Khoa Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, ông dành nhiều năm nghiên cứu sinh lí thực vật, khả năng chống chịu của cây trồng, công nghệ sau thu hoạch và phát triển nông nghiệp thích ứng điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Quê ở Bình Thủy, Cần Thơ, GS. TS. Lê Văn Hòa tốt nghiệp cử nhân Đại học Cần Thơ năm 1981, sau đó học thạc sĩ và tiến sĩ tại Đại học Hiroshima, Nhật Bản. Ông được phong Nhà giáo Ưu tú năm 2010, nhận Huân chương Lao động hạng Ba năm 2011 và được tôn vinh danh hiệu “Nhà Khoa học của Nhà nông” năm 2026.
Trong công việc, ông chú trọng nghiên cứu cơ bản, công bố kết quả khoa học để cán bộ kĩ thuật, khuyến nông và người sản xuất tham khảo, vận dụng vào thực tiễn. Ông không trực tiếp chuyển giao kĩ thuật đại trà như lực lượng khuyến nông, nhưng từng tham gia các chương trình truyền thông “Nhịp cầu nhà nông” và “Bạn nhà nông”, giải đáp những vấn đề kĩ thuật được nông dân quan tâm.
GS. TS. Lê Văn Hòa tham gia các chương trình hợp tác quốc tế với vai trò thư kí chương trình hoặc phụ trách nhóm chuyên môn; đồng thời chủ trì nhiều đề tài cấp bộ và cấp tỉnh. Các địa bàn nghiên cứu gồm Đồng Tháp, Bến Tre, An Giang và Cần Thơ, trong đó Đồng Tháp là nơi ông triển khai nhiều công trình. Nghiên cứu sinh lí thực vật giúp lí giải quá trình ra hoa, đậu trái và phát triển nông sản, cung cấp căn cứ lựa chọn biện pháp canh tác.
Nghiên cứu cây ăn trái, nhân giống và bảo quản nông sản
Ứng dụng chất điều hòa sinh trưởng kết hợp kĩ thuật dinh dưỡng, bao gồm phân bón lá, trên cây ăn trái là hướng nghiên cứu của GS. TS. Lê Văn Hòa. Ông nghiên cứu chôm chôm, măng cụt và một số loại cây đặc sản, tập trung vào mối liên hệ giữa sinh trưởng, điều kiện thời tiết, khả năng ra hoa, năng suất và chất lượng trái.
Với cây măng cụt, các công trình khảo sát ảnh hưởng của tuổi lá, stress nước nhân tạo và một số chất xử lí đến quá trình ra hoa, năng suất, phẩm chất. Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học để đánh giá phản ứng sinh lí của cây.

Ở nhóm cây có múi và xoài, ông cùng cộng sự nghiên cứu xử lí trước thu hoạch, màu sắc vỏ trái, độ già quả và thời gian bảo quản. Các công trình đề cập đến calcium chloride, gibberellic acid, ethephon, bao gói và bảo quản lạnh đối với xoài Cát Hòa Lộc, quýt Hồng cùng những loại trái cây khác. Chất lượng thương phẩm còn phụ thuộc thời điểm thu hoạch, phân loại, sơ chế, đóng gói và bảo quản. Xác định các yếu tố này giúp lựa chọn quy trình phù hợp, hạn chế tổn thất.
Ông còn nghiên cứu nhân giống vô tính, nuôi cấy mô và gắn bó nhiều năm với cây quýt Hồng Đồng Tháp. Nhân giống đúng quy trình giúp tạo cây đồng đều, nâng chất lượng giống.
Với cây khóm, các công trình về vi nhân giống và sản xuất cây sạch bệnh hướng đến cải thiện chất lượng giống trước khi đưa ra sản xuất. Danh mục nghiên cứu còn ghi nhận công trình về khả năng chống chịu nhôm của cây khóm, phát hiện virus gây bệnh héo khô đầu lá khóm bằng phương pháp RT-PCR và TBIA, cùng các nghiên cứu nhân giống cây trồng bằng kĩ thuật sinh học. Các hướng nghiên cứu kết nối sinh lí thực vật, sinh học phân tử, chẩn đoán bệnh và công nghệ nhân giống.
Khoai môn Lấp Vò: Khoa học đồng hành cùng nhà nông
GS. TS. Lê Văn Hòa tham gia chủ nhiệm đề tài phát triển cây khoai môn, còn gọi là khoai cao, tại huyện Lấp Vò, Đồng Tháp. Đề tài triển khai khoảng ba đến bốn năm, huy động sáu đến bảy nhóm nghiên cứu chuyên ngành để giải quyết nhiều khâu trong chuỗi giá trị.
Ở khâu giống, nhóm nghiên cứu ứng dụng phương pháp di truyền để xác định đặc trưng của khoai môn Lấp Vò. Kết quả hỗ trợ địa phương xây dựng hồ sơ bảo hộ, bảo vệ danh tiếng giống đặc sản. Quy trình nuôi cấy mô hướng đến cây giống sạch bệnh, khỏe, đồng đều.

Ở khâu canh tác, nhóm nghiên cứu tìm giải pháp giảm lượng phân bón hóa học nhưng vẫn duy trì năng suất, cải thiện lợi nhuận và giảm áp lực môi trường. Đề tài còn tuyển chọn vi sinh vật có lợi, nấm đối kháng để hỗ trợ phòng trừ bệnh trên cây môn, nhằm tăng sử dụng biện pháp sinh học.
Một hướng khác là chế biến bột khoai môn và phát triển sản phẩm giá trị gia tăng. Nhóm nghiên cứu đồng thời khảo sát việc thu gom, ủ chua thân lá sau thu hoạch làm thức ăn cho gia súc như bò và heo. Cách làm giúp tận dụng phụ phẩm, giảm lãng phí. Sự phối hợp liên ngành cho thấy phát triển đặc sản cần quan tâm chất lượng giống, hiệu quả kinh tế và đầu ra.
Sau khi đề tài được nghiệm thu, giai đoạn 2021–2022, GS.TS Lê Văn Hòa được UBND tỉnh Đồng Tháp và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tôn vinh vì những đóng góp cho địa phương.
Từ cây ăn trái, quýt Hồng đến khoai môn Lấp Vò, nghiên cứu của ông cung cấp căn cứ khoa học cho sản xuất. ĐBSCL cần kết nối nhà khoa học với khuyến nông, hợp tác xã và doanh nghiệp để nâng chất lượng, tiết kiệm chi phí, thích ứng biến đổi khí hậu. Quy trình cần được kiểm chứng trước khi nhân rộng.
Kết quả nghiên cứu cần phối hợp giữa trường đại học, cơ quan quản lý, đơn vị chuyển giao và người trồng. Thử nghiệm giúp đánh giá tính phù hợp, chi phí, khả năng nhân rộng và tác động môi trường. Đây là bước cần thiết để chuyển tri thức khoa học thành lợi ích cho nông dân.
Danh hiệu “Nhà Khoa học của Nhà nông” năm 2026 ghi nhận đóng góp và vai trò khoa học công nghệ trong nâng chất lượng giống, cải thiện canh tác, giảm tổn thất, gia tăng giá trị nông sản.