Cuộc đời nhà khoa học

GS. Đặng Vũ Hỷ:(Kỳ 3) Bàn tay sạm nắng của tiểu thư đài các và giai thoại "Cụ sĩ Hỉ" qua hồi ức người bạn đời

Nam Phong •

Qua lời kể của người vợ – tiểu thư đài các Phạm Thị Thức, chân dung GS. Đặng Vũ Hỷ hiện lên đầy dấn thân từ chiến khu Việt Bắc đến giai thoại được nhân dân phong tặng danh hiệu “Cụ sĩ”.

vợ giáo sư đặng Vũ Hỷ
20261022_150004.jpg
GS. Đặng Vũ Hỷ và phu nhân Phạm Thị Thức năm 1933. Ảnh chụp tư liệu

Trong ký ức lịch sử y học Việt Nam,Giáo sư, Bác sĩ Đặng Vũ Hỷỷ không chỉ được nhớ đến với tư cách một nhà khoa học lớn hay vị giáo sư đầu ngành da liễu. Ở Kỳ 3 này, chân dung của ông hiện lên qua góc nhìn chân thực, mộc mạc và giàu chi tiết lịch sử từ chính hồi ức của người bạn đời – bà Phạm Thị Thức (1915 – 2007), người phụ nữ từ bỏ lầu son gác tía để trọn đời đồng cam cộng khổ cùng chồng qua giông bão thời đại. Được tác giả Đặng Phong ghi lại trong công trình Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 (NXB Khoa học Xã hội, 2002), đây là câu chuyện về hành trình từ giã cuộc sống "hái ra tiền" đô thành, dấn thân vào chiến khu gian khổ, cho đến giai thoại độc nhất vô nhị: một bác sĩ được nhân dân vùng đồng chiêm kính trọng phong thẳng lên danh hiệu..."Cụ sĩ".

Thân thế tiểu thư khuê nữ và nhân duyên trăm năm của gia tộc trí thức

Để thấu hiểu trọn vẹn cuộc đời và những lựa chọn đầy tính dấn thân của Giáo sư, Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, không thể không nhắc đến người bạn đời tào khang luôn kề vai sát cánh bên ông qua suốt những thăng trầm của lịch sử: bà Phạm Thị Thức (1915 – 2007).

gia-dinh-sinh-nhat-2-cu_2.jpg.webp

Bà Phạm Thị Thức sinh năm Ất Mão (1915), là người con gái thứ ba của học giả, nhà văn hóa, nhà báo lớn kiêm quan Thượng thư triều Nguyễn – cụ Phạm Quỳnh (1892 – 1945). Lớn lên trong một gia đình trí thức Nho học kết hợp Tây học hàng đầu Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, tiểu thư Phạm Thị Thức từ thuở bé đã được sống trong sự nhung lụa, nền nếp gia phong nghiêm cẩn của một gia đình quan đại thần tại kinh đô Huế. Vốn là một tiểu thư "đài các", từ bé đến lớn bà quen sống trong sung sướng, "ăn trắng mặc trơn", mọi nhu cầu vật chất đều được chăm lo chu đáo và hoàn toàn không biết đến hai tiếng "gian khổ" hay "cực nhọc" là gì.

20261022_072027(1).jpg
Gia đình BS Đặng vũ Hỷ năm 1949 (Ninh Bình). Ảnh chụp tư liệu

Thế nhưng, chính nền tảng học thức, sự tinh tế của một gia đình danh giá cùng tấm lòng đôn hậu đã hun đúc ở người thiếu nữ họ Phạm ấy một bản lĩnh nội tâm vô cùng vững vàng. Xuất thân trong một gia đình nền nếp Nho phong, tiểu thư Phạm Thị Thức sớm được song thân đính ước với chàng trai Đặng Vũ Hỷ – người con trai ưu tú của dòng họ khoa bảng làng Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định). Khi chàng thanh niên Đặng Vũ Hỷ du học trời Âu, đỗ Bác sĩ nội trú chuyên ngành Da liễu tại Paris năm 1937, bà đã trở thành người vợ hiền, người tri kỷ gắn bó trọn đời với ông.

Hôn nhân của họ không chỉ là sự kết hợp giữa hai dòng họ trí thức lớn, mà còn là điểm tựa vững chắc để bác sĩ Đặng Vũ Hỷ yên tâm dấn thân cho sự nghiệp y học nước nhà. Để rồi, khi thời cuộc đổi thay, chính tiểu thư đài các ngày nào ở Huế và Hà Nội lại là người đầu tiên sẵn sàng buông bỏ mọi lầu son gác tía để cùng chồng bước vào những chặng đường kháng chiến gian lao nhất của dân tộc.

Lựa chọn rời bỏ "hái ra tiền" để đi theo tiếng gọi non sông

Nhìn lại bối cảnh lịch sử những năm trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945, bà Phạm Thị Thức từng xúc động hồi tưởng về những bước ngoặt lớn của cuộc đời người chồng kính yêu. Trong những năm tháng trước kháng chiến, nghề bác sĩ ở nước ta vốn là một nghề cực kỳ danh giá và có thu nhập vô cùng lớn, thường được ví von là "hái ra tiền". Nhiều tên tuổi y khoa lừng danh trong nước lúc bấy giờ như Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Hường, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Trần Hữu Tước và Đặng Vũ Hỷ đều là những trí thức xuất sắc từng được đào tạo bài bản tại các trung tâm y học hàng đầu.

gia-dinh-giao-su-dang-vu-hy(1).png
Gia đình GS. Đặng Vũ Hỷ năm 1956 (trái) và 1963 (phải). Ảnh chụp tư liệu

Đặc biệt, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ là một trong những bác sĩ Việt Nam đầu tiên đạt danh hiệu nội trú và được tuyển dụng vào làm việc tại Bệnh viện Saint-Lazare – một cơ sở y tế lớn và nghiêm ngặt bậc nhất tại Paris (Pháp). Trở về nước với tấm bằng danh giá, đáng lẽ ra ông có thể chọn một cuộc sống vinh hoa phú quý, an nhàn hưởng thụ tại phòng mạch tư sang trọng giữa lòng Hà Nội. Thế nhưng, mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn và nỗi bất mãn sâu sắc với chế độ thực dân hà khắc, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ đã không do dự từ bỏ cương vị giám đốc bệnh viện mỏ than Đông Triều – nơi những người thợ mỏ bị bóc lột tàn nhẫn – để về Thủ đô mở phòng khám tư.

Và rồi, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tiếng gọi của non sông vang lên, theo lời kêu gọi của người đồng nghiệp kính trọng là bác sĩ Hồ Đắc Di, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ lại một lần nữa dấn thân vào sự nghiệp chung của đất nước. Cơm nhà việc nước, hằng ngày ông miệt mài trong bệnh viện lo toan cứu chữa cho biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân lao động. Bỏ lại sau lưng mọi tài sản và sự sung túc cá nhân, ông chính thức gia nhập Vệ quốc đoàn, khoác áo lính quân y, đem tri thức y học đi dọc chiều dài đất nước để vừa chữa bệnh, vừa tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh cho đồng bào.

"Thuốc độc lập - tự do" và câu chuyện cấy rau, nuôi gà ở chiến khu Việt Bắc

Khi bước chân vào cuộc kháng chiến trường kỳ, vị tiểu thư khuê nữ ngày nào quen sống trong nhung lụa bỗng chốc trở thành người vợ chiến sĩ kiên cường. Trong ký ức được ghi lại bởi tác giả Đặng Phong, bà Phạm Thị Thức đã kể lại những câu chuyện vô cùng sinh động và dung dị về đời sống ở chiến khu:

"Thời kỳ sau cách mạng, kỳ lạ lắm, hình như có một thứ thuốc mới rất công hiệu, chúng tôi hay gọi đùa là 'thuốc độc lập - tự do'. Quả thật là trước ngày cách mạng bùng nổ, sao mà lắm bệnh tật thế. Đi đến đâu cũng thấy bệnh, đủ các thứ bệnh. Nhìn người nào cũng mặt xanh, nanh vàng, hối hám, ghẻ lở... trông mà buồn cho người Việt Nam.

Sau cách mạng, thực ra làm gì có lắm thuốc men, nhưng mà bệnh tật không biết tại sao giảm đi rất nhanh. Chúng tôi cũng có tham gia chữa chạy, giúp đỡ nhân dân. Nhưng chính nhân dân cũng đã đổi khác sau cách mạng. Yếu tố tinh thần, sự vui vẻ phấn khởi, lạc quan, có ý thức trong sinh hoạt, biết giữ gìn vệ sinh, ăn, uống, ở... đều không còn quá lúi xúi như trước. Có lẽ đó là nhân tố quan trọng nhất, chứ không phải thuốc thang".

“

Thời kỳ sau cách mạng, kỳ lạ lắm, hình như có một thứ thuốc mới rất công hiệu, chúng tôi hay gọi đùa là 'thuốc độc lập - tự do'. Quả thật là trước ngày cách mạng bùng nổ, sao mà lắm bệnh tật thế. Đi đến đâu cũng thấy bệnh, đủ các thứ bệnh. Nhìn người nào cũng mặt xanh, nanh vàng, hối hám, ghẻ lở... trông mà buồn cho người Việt Nam.

- Phạm Thị Thức, vợ GS Đặng Vũ Hỷ

Chính tinh thần lạc quan và tình yêu thương chồng con đã giúp người phụ nữ ấy vượt qua mọi nghịch cảnh. Là con gái của Thượng thư triều đình, từ bé đến lớn chưa từng nếm trải nhọc nhằn, vậy mà khi theo chồng vào chiến khu Việt Bắc, bà chẳng hề thấy khổ một chút nào. Những năm tháng ở chiến khu, bà lội xuống những con suối hoang sơ, tự tay tìm các bãi đất ven suối để cấy rau muống. Nhờ phù sa màu mỡ, luống rau muống lên tốt tươi mơn mởn, ăn không xuể, bà lại chuyển sang nuôi thêm gà, nuôi thêm vịt. Vịt đẻ trứng rất nhiều, gà cũng sinh sôi nảy nở, bà còn tự học cả cách làm tương. Mẻ tương tự làm thơm ngon đến nỗi bà đem bán cho các gia đình cán bộ xung quanh cũng kiếm thêm được một ít tiền trang trải cuộc sống.

Thậm chí, Tổng Bí thư Trường Chinh trong một lần ghé thăm đã cười nói đùa vui với bà rằng: "Chị ơi, chị nên kinh doanh rau muống, trứng gà trứng vịt đem bán cho cơ quan chính phủ để nuôi các cháu". Nhớ lại những năm tháng ấy, bà luôn cảm thấy vui vẻ và tràn đầy năng lượng, hoàn toàn không biết đến khái niệm "cực khổ" là gì.

Có những thời điểm, một vài cán bộ vì hoàn cảnh quá khó khăn, nhụt chí muốn quay trở về vùng tạm chiếm, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ thấy thế liền bộc lộ nỗi day dứt và hỏi vợ: "Anh thương em khổ sở, không biết em có muốn trở về Hà Nội không?". Nghe chồng hỏi, bà quả quyết lắc đầu trả lời một cách chân thành từ tận đáy lòng:

"Em chẳng thấy khổ. Ở đâu có anh có các con là em sung sướng. Ở đây thế này cũng được, em ở mãi cũng không sao. Anh cứ đi theo kháng chiến đến bao nhiêu năm em cũng theo được, chẳng việc gì phải về theo Tây...".

Giải oan cho người bị hủi ở Thư Điền và giai thoại "Cụ sĩ Hỷ"

Trong những năm tháng làm Trưởng Ty Y tế Ninh Bình, cơ quan của bác sĩ Đặng Vũ Hỷ đóng tại vùng chiến khu giáp chân núi thuộc xã Thư Điền, huyện Gia Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Tại vùng đất chiêm trũng này, bà Phạm Thị Thức đã lưu giữ những ký ức sâu sắc nhất về hai câu chuyện thể hiện trọn vẹn y đức và tài trí của chồng mình.

Câu chuyện thứ nhất là việc giải oan cho người bị đồn mắc bệnh hủi (phong). Tại địa phương lúc bấy giờ, nhân dân truyền tai nhau có một người bị mắc bệnh hủi hiểm nghèo. Do quá sợ hãi sự lây lan, dân làng bắt người bệnh phải ra ở trong một túp lều rách nát dựng đơn sơ giữa đồng không mông quạnh. Hằng ngày, người thân chỉ dám mang cơm ra để ở một khoảng cách xa bên ngoài chứ tuyệt đối không dám bước chân vào lều. Người bệnh cứ thế cô độc chịu đựng suốt mấy năm trời ngoài cánh đồng hoang vắng.

Khi nghe người dân kể lại các triệu chứng bệnh lý, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ nhận định bằng nhãn quan khoa học rằng rất có thể đây không phải là bệnh hủi. Ông liền yêu cầu người dân chỉ đường, rồi một mình kiên định đi thẳng ra chiếc lều giữa đồng để trực tiếp khám bệnh. Khám kỹ lưỡng xong, ông khẳng định chắc nịch: đây hoàn toàn không phải là bệnh hủi.

Thế nhưng, lời nói của một vị bác sĩ mới đến làm sao dễ dàng xóa tan ngay định kiến bám rễ lâu đời trong dân làng. Để đập tan sự hoảng sợ và nghi ngờ của cộng đồng, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ đã làm một việc chấn động: ông trực tiếp cầm tay người bệnh rồi đường hoàng dẫn họ trở về làng. Hành động dũng cảm và nhân ái ấy đã tạo ra một sức nặng thuyết phục tuyệt đối. Người dân nhủ nhau rằng: một vị bác sĩ tài giỏi và kính trọng như thế mà dám đường hoàng cầm tay người bệnh thì chắc chắn đó không phải là bệnh lây. Không những được bảo lãnh về làng hòa nhập cộng đồng, người bệnh ấy sau đó còn được chính bác sĩ Đặng Vũ Hỷ tận tình cứu chữa khỏi hẳn bệnh ngoài da. Suốt phần đời còn lại, ông cụ cùng con cháu luôn khắc ghi ơn sâu nghĩa nặng đối với vị bác sĩ đã trả lại cho họ nhân phẩm và sự sống.

Giai thoại cả xã Thư Điền gọi là "Cụ sĩ Hỷ"

Câu chuyện thứ hai là giai thoại chế thuốc chống đỉa và danh hiệu "Cụ sĩ Hỷ". Vùng đồng chiêm Thư Điền lúc bấy giờ ngập nước, đi đâu cũng phải lội bùn, và "nỗi kinh hoàng" lớn nhất của cán bộ, học trò lẫn nông dân chính là loài đỉa. Đỉa nhiều vô kể, bám hút máu làm ai nấy đều bị lở loét, khổ sở vô cùng.

Thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ đã mày mò nghiên cứu, tận dụng một vài thứ nguyên liệu thông thường, giá rẻ và cực kỳ dễ kiếm để bào chế ra một loại thuốc bôi chân phòng đỉa hiệu quả.

20261022_153438(3).jpg
GS. Đặng Vũ Hỷ ngâm chân vào chậu nước nhiều đỉa để chứng minh ông đã tìm ra thuốc bôi chân chống đỉa cắn. Ảnh chụp lại tư liệu

Để kiểm chứng tác dụng thực tế trước khi phát cho đồng bào, ông đã xung phong làm vật thí nghiệm đầu tiên trên chính cơ thể mình. "Ông ấy đã xung phong thí nghiệm trước, đến chỗ có thật nhiều đỉa thò chân xuống, một chân có bôi thuốc, một chân không. Chân không bôi thuốc thì đỉa bám đầy, còn chân có bôi thuốc không một con đỉa nào bám vào.

Nhân dân được dùng thuốc đó phấn khởi lắm, làng này đồn sang làng nọ... Rồi cuối cùng các cụ lão trong xã Thư Điền đã gặp ông nhà tôi cảm tạ hết lòng. Thời Pháp, đây là vùng dân rất lạc hậu. Họ không hiểu bác sĩ có nghĩa là gì. Họ lại nghĩ rằng 'bác' là hơn 'chú'. Một ông cụ nói với ông Hỷ nhà tôi:

"Ông không còn là 'bác', ông xứng đáng là 'ông', hơn thế nữa ông xứng đáng là 'cụ'. Chính phủ tại sao lại chỉ phong cho ông là 'bác sĩ', chúng tôi xin phong tặng cho ông danh hiệu 'cụ sĩ'!"

Từ đấy trở đi, cả xã Thư Điền đều gọi ông Hỷ nhà tôi là "Cụ sĩ Hỷ".

Giá trị biểu tượng từ hồi ức người bạn đời

Những trang hồi ức mộc mạc nhưng vô cùng đắt giá của bà Phạm Thị Thức không chỉ tái hiện một giai đoạn lịch sử hào hùng và gian khổ của đất nước, mà còn khắc họa rõ nét nhân cách cao đẹp của Giáo sư, Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ qua lăng kính đời thường nhất.

Đằng sau một nhà khoa học uy bác, một người thầy thuốc tận tụy cứu người hay một "Cụ sĩ Hỷ" được nhân dân kính trọng, là hình bóng người vợ tào khang đã lặng lẽ hy sinh tuổi trẻ, vượt qua mọi thiếu thốn khắc nghiệt của chiến khu để làm bệ phóng tinh thần vững chắc cho chồng. Sự hòa quyện giữa lý tưởng phụng sự nhân dân của người thầy thuốc và sự thủy chung, kiên cường của người bạn đời đã tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp về phẩm chất trí thức Việt Nam thế kỷ 20 – nơi trí tuệ, y đức và tình yêu thương con người luôn tỏa sáng rực rỡ nhất ngay cả trong những hoàn cảnh tăm tối và gian khổ nhất.

Còn tiếp

Nam Phong