Thời sự

TP.HCM đề xuất cơ chế liên kết vùng nguyên liệu với chế biến sâu và xuất khẩu

Nguyễn Tuyết • 23/10/2026 11:57

Tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026 ngày 22/10, Sở Công Thương TP.HCM đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp liên kết vùng theo chuỗi giá trị.

Mục tiêu là kết nối vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, hệ thống phân phối, logistics và thị trường xuất khẩu, khắc phục tình trạng sản xuất thiếu thông tin thị trường, tiêu thụ ngắn hạn và chi phí cung ứng cao.

Chuyển từ kết nối cung cầu sang tổ chức chuỗi giá trị

Sở Công Thương TP.HCM cho rằng liên kết vùng cần chuyển từ các hoạt động xúc tiến thương mại riêng lẻ sang tổ chức những chuỗi cung ứng có doanh nghiệp tham gia, có thị trường đầu ra và có kết quả đo lường cụ thể. Đây là hướng đi nhằm khai thác lợi thế bổ trợ giữa TP.HCM với các địa phương phía Nam, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của hàng hóa.

2aobor7stgkxdlxhk85jlmjwdbglbhdka3gzaqxw.jpg
Ông Bùi Hoàng Tá Vũ, Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM phát biểu tại sự kiện.

Theo Sở Công Thương TP.HCM, mỗi địa phương trong khu vực có lợi thế riêng về sản xuất, nguyên liệu, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, các lợi thế này chưa được kết nối đầy đủ thành chuỗi vận hành thống nhất.

Một sản phẩm có thể được sản xuất tại địa phương này, sơ chế hoặc chế biến tại địa phương khác, sau đó đi qua hệ thống phân phối và logistics trước khi đến người tiêu dùng hoặc thị trường quốc tế. Vì vậy, hiệu quả của sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng địa phương mà còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa các khâu trong chuỗi.

TP.HCM có thế mạnh về công nghiệp chế biến, chế tạo, thị trường tiêu dùng, bán lẻ, thương mại điện tử, logistics và xuất nhập khẩu. Trong khi đó, nhiều địa phương có lợi thế về vùng nguyên liệu nông nghiệp, thủy sản và sản xuất công nghiệp. Nếu được tổ chức hợp lý, nguồn nguyên liệu của các địa phương có thể gắn với năng lực chế biến, phân phối và xuất khẩu của TP.HCM để tạo ra giá trị lớn hơn.

Đề xuất này được đưa ra trong bối cảnh hoạt động công nghiệp, thương mại và xuất nhập khẩu của TP.HCM tiếp tục tăng trưởng. Theo số liệu báo cáo, 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp của thành phố ước tăng 10,9% so với cùng kỳ; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.488.689 tỷ đồng, tăng 13,8%. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt khoảng 699.429 tỷ đồng, tăng 17,2%. Doanh thu thương mại điện tử ước đạt 131.632 tỷ đồng, tăng khoảng 35,2%.

Kim ngạch xuất khẩu của thành phố trong 9 tháng ước đạt 76 tỷ USD, tăng 10,6%; nhập khẩu đạt 82,25 tỷ USD, tăng 12,6%. Sản lượng điện thương phẩm đạt khoảng 45.068 triệu kWh, tăng 7,97% so với cùng kỳ năm 2025.

Những kết quả này cho thấy TP.HCM có thị trường tiêu thụ lớn, năng lực sản xuất và hệ thống doanh nghiệp xuất nhập khẩu đủ điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực. Tuy nhiên, theo tham luận, thành phố vẫn cần mở rộng không gian tăng trưởng thông qua liên kết với các địa phương.

GRDP 9 tháng năm 2026 của TP.HCM tăng 9,06%. Trong khi mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên đặt ra yêu cầu cao cho những tháng cuối năm, liên kết vùng được xác định là một hướng mở rộng nguồn lực và tăng hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Điểm nghẽn hiện nay không hẳn là thiếu hoạt động kết nối cung cầu. Các địa phương đã tổ chức nhiều chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ, tuần hàng và gặp gỡ doanh nghiệp. Vấn đề là những hoạt động này chưa đủ để hình thành quan hệ cung ứng ổn định, lâu dài.

Doanh nghiệp cần biết rõ vùng nguyên liệu nằm ở đâu, sản lượng thực tế bao nhiêu, mùa vụ thế nào, tiêu chuẩn chất lượng ra sao, có truy xuất nguồn gốc hay không và khả năng cung ứng có ổn định hay không. Ngược lại, người sản xuất cũng cần nắm được nhu cầu thu mua, quy mô đơn hàng, tiêu chuẩn sản phẩm, thời điểm giao hàng và yêu cầu của thị trường cuối cùng.

Khi thông tin hai chiều chưa đầy đủ, doanh nghiệp khó chủ động kế hoạch sản xuất, còn người sản xuất dễ phụ thuộc vào các giao dịch ngắn hạn. Trong nhiều trường hợp, vùng nguyên liệu được tổ chức trước rồi mới tìm đầu ra. Khi thị trường thay đổi hoặc tiêu chuẩn tăng lên, việc điều chỉnh sản xuất mất thời gian, phát sinh chi phí và làm tăng rủi ro về chất lượng, sản lượng, tiến độ giao hàng.

Một điểm nghẽn khác là vùng nguyên liệu, kho bảo quản, chế biến và vận chuyển chưa phải lúc nào cũng được tính toán đồng bộ. Với nông sản và thủy sản có tính mùa vụ, sự thiếu đồng bộ giữa thu hoạch, sơ chế, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ có thể làm giảm giá trị sản phẩm ngay trong quá trình lưu thông.

Vì vậy, TP.HCM đề xuất chuyển từ kết nối từng hoạt động sang tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị, trong đó nhu cầu thị trường là căn cứ để xác định phương án sản xuất và cung ứng.

Ưu tiên chuỗi lúa gạo, thủy sản, trái cây và công nghiệp chế biến

Theo đề xuất của Sở Công Thương TP.HCM, các sở công thương TP.HCM, Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Vĩnh Long cần nghiên cứu hình thành cơ chế phối hợp liên kết ngành Công Thương khu vực phía Nam theo chuỗi giá trị.

dsc07928.jpg
TP.HCM đề xuất cơ chế liên kết vùng nguyên liệu với chế biến sâu và xuất khẩu.

Cơ chế này không nhằm tạo thêm một tầng nấc quản lý hay xác lập một địa phương làm trung tâm điều phối. Mục tiêu là hình thành phương thức phối hợp thường xuyên, linh hoạt và thực chất, giúp các địa phương kết nối thông tin, doanh nghiệp và nguồn lực trên cơ sở lợi thế của từng nơi và nhu cầu của thị trường.

Trước hết, các địa phương cần xây dựng nền tảng thông tin chung về cung - cầu. Dữ liệu không chỉ dừng ở thống kê sản phẩm mà phải phục vụ trực tiếp quyết định của doanh nghiệp, bao gồm vùng nguyên liệu, sản lượng, mùa vụ, tiêu chuẩn chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc, năng lực sơ chế, chế biến, nhu cầu thu mua và thị trường tiêu thụ.

Thông tin từ doanh nghiệp về nhu cầu sản phẩm, quy mô đơn hàng, tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của từng thị trường cũng cần được cập nhật thường xuyên. Khi hai chiều thông tin được kết nối, doanh nghiệp có thể chủ động tìm nguồn cung phù hợp, còn địa phương có vùng nguyên liệu có cơ sở tổ chức sản xuất theo nhu cầu thực tế.

Thay vì triển khai dàn trải, các địa phương được đề xuất lựa chọn một số chuỗi ngành hàng có lợi thế rõ ràng và khả năng mở rộng thị trường để thực hiện trước.

Với chuỗi lúa gạo, vùng sản xuất tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Vĩnh Long có thể kết nối với doanh nghiệp chế biến, phân phối và xuất khẩu trong khu vực. Trọng tâm không chỉ là bảo đảm đầu ra mà còn nâng cao chất lượng, tăng tỷ lệ chế biến, xây dựng thương hiệu và đáp ứng yêu cầu riêng của từng thị trường.

Đối với thủy sản, thế mạnh của Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp và các địa phương có vùng nuôi cần được kết nối với doanh nghiệp chế biến, logistics và xuất khẩu. Việc tổ chức chuỗi phải hướng đến kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nuôi, ổn định nguồn cung, nâng tỷ lệ chế biến sâu và tăng giá trị xuất khẩu.

Với trái cây và các sản phẩm nông nghiệp, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tây Ninh cùng những địa phương có lợi thế phù hợp có thể liên kết với doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối để phát triển song song thị trường hàng tươi và sản phẩm chế biến. Cách làm này có thể góp phần giảm áp lực tiêu thụ trong thời điểm thu hoạch tập trung, kéo dài thời gian lưu thông và hạn chế rủi ro khi thị trường biến động.

Ở nhóm sản phẩm công nghiệp, thực phẩm chế biến và công nghiệp hỗ trợ, năng lực sản xuất của Đồng Nai, Tây Ninh và TP.HCM có thể được kết nối để mở rộng mạng lưới cung ứng, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tăng khả năng tham gia các chuỗi sản xuất quy mô lớn.

Theo đề xuất, doanh nghiệp phải tham gia ngay từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, thay vì chỉ tiếp nhận sản phẩm sau thu hoạch. Doanh nghiệp cần xác định yêu cầu về giống, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, quy cách và thời gian cung ứng. Trên cơ sở đó, vùng sản xuất tổ chức lại hoạt động để đáp ứng nhu cầu.

Nguyễn Tuyết