Cuộc đời nhà khoa học

GS. Đặng Vũ Hỷ: Kỳ 4 - Tài sản lớn nhất mà cha tôi để lại là tình thương yêu con người

Bài: Nam Phong- ảnh, video: Hà Tuấn •


Qua cuộc phỏng vấn với Tạp chí Một Thế Giới, GS.TSKH Đặng Vũ Minh xúc động chia sẻ về di sản vô giá của cha – GS.BS Đặng Vũ Hỷ: Không có của cải, vật chất, chỉ trao lại cho con cháu một tấm lòng nhân ái bao la.

đặng vũ minh nói về cha

Để giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về chân dung Giáo sư, Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910 – 1972) – người đặt nền móng cho ngành Da liễu Việt Nam - Tạp chí Một Thế Giới đã gặp gỡ GS.VS.TSKH Đặng Vũ Minh, con trai ông.

GS.VS.TSKH Đặng Vũ Minh - nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, X; nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa XII; nguyên Chủ tịch Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - xưa nay vốn được biết đến là người khiêm tốn, rất hiếm khi trả lời phỏng vấn báo chí.

Giáo sư Đặng Vũ Minh kể về cha mình. Video: Hà Tuấn

Thông qua cuộc trò chuyện này, GS.VS.TSKH Đặng Vũ Minh lần đầu chia sẻ về nếp nhà gia phong, những bài học làm người sâu sắc cùng di sản tinh thần quý báu mà người cha kính yêu đã trao truyền lại cho các thế hệ con cháu.

Một Thế Giới trân trọng giới thiệu tới quý độc giả toàn văn bài phỏng vấn đặc biệt này.

01.png

- Thưa GS.VS.TSKH Đặng Vũ Minh, trong ký ức của Giáo sư, cách uốn nắn, giáo dục con cái của GS.BS Đặng Vũ Hỷ trong gia đình hiện lên như thế nào? Có kỷ niệm nhỏ nào thời thơ ấu đã để lại dấu ấn theo Giáo sư suốt cả cuộc đời?

- GS. Đặng Vũ Minh: Hồi nhỏ, tôi cũng như bao đứa trẻ khác, rất thích đi chơi và đôi khi nghịch ngợm. Nhưng tôi vẫn nhớ mãi một kỷ niệm là mỗi khi tôi làm điều gì đó không ổn, cha tôi không bao giờ đánh mắng hay quát tháo. Cụ chỉ nhẹ nhàng gọi tôi lại và bảo: "Anh như vậy là không được, anh phải học cho tốt".

Chỉ cần nói đúng một câu như vậy thôi, nhưng lần sau tôi không bao giờ dám nghịch ngợm ở trường cũng như ngoài phố nữa. Tôi cho rằng cách giáo dục như vậy đã để lại một ấn tượng sâu sắc suốt cả cuộc đời tôi. Bởi vì có lẽ không gì quan trọng hơn khi lời dạy được xuất phát từ chính trái tim. Khi người con đã hiểu việc đó là không nên làm, thì lần sau cương quyết không bao giờ làm nữa. Điều đó tác động rất sâu và làm cho mình tự giác điều chỉnh bản thân.

- Dòng họ Đặng Vũ ở làng Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định) nổi tiếng cả nước với truyền thống khoa bảng và hiếu học. Sự phóng khoáng của một trí thức Tây học hòa quyện với nếp nhà Hành Thiện đã được GS. Đặng Vũ Hỷ truyền lại cho các con ra sao giữa những năm tháng kháng chiến gian khổ?

giáo sư đặng vũ hỷ - đặng vũ minh
Gia đình GS. Đặng vũ Hỷ năm 1949 (Ninh Bình). Ảnh chụp tư liệu

- GS. Đặng Vũ Minh: Có lẽ quan trọng nhất chính là cái nếp nhà, nếp sống của người Hành Thiện mà tôi ghi nhớ sâu sắc nhất, đó là tinh thần chăm học từ thuở bé.

Tôi nhớ những năm tháng kháng chiến, vào buổi tối, cha tôi thường thắp một ngọn đèn dầu lạc, ngồi cặm cụi viết các giáo trình để chuẩn bị giảng dạy cho ngày hôm sau. Tôi cũng ngồi ngay bên cạnh ông để học bài của mình cho đến tận khuya. Cha đi cùng thì con cũng đi cùng. Cái để lại cho tôi sâu sắc nhất chính là tinh thần hiếu học đó.

Và điều thứ hai mà cha tôi truyền lại chính là cách cư xử nhân đãi đối với mọi người. Qua cách cha đối xử với bệnh nhân, đối xử với hàng xóm xóm giềng, tôi đã học hỏi được rất nhiều.

đặng vũ hỷ

- Thưa ông, GS. Đặng Vũ Hỷ đỗ Bác sĩ nội trú tại Paris năm 1937, từng làm việc tại Bệnh viện Saint-Lazare danh tiếng, trở về nước có phòng mạch tư rất đông khách tại Hà Nội và lại là con rể của quan Thượng thư Phạm Quỳnh. Đang có trong tay một cuộc sống phồn hoa và sung túc như vậy, đêm Toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19/12/1946) đã diễn ra với cha của Giáo sư như thế nào?

- GS. Đặng Vũ Minh: Cha tôi từng kể lại rằng, vào đầu tháng 12 năm 1946, tình hình ở Hà Nội đã rất căng thẳng. Ngoài đường, xe thiết giáp của Pháp chạy ầm ầm, thỉnh thoảng lại nghe tiếng súng nổ. Cha tôi quyết định đưa cả gia đình tản cư về nhà ông bà nội tôi ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

GS.VS.TSKH Đặng Vũ Minh
Giáo sư Đặng Vũ Minh tặng tác giả bài viết cuốn Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và Sự nghiệp. Ảnh: Hà Tuấn

Chẳng bao lâu sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Vào một đêm mùa đông lạnh lẽo, cha tôi từ biệt vợ và ba con nhỏ (đứa lớn nhất mới 6 tuổi, đứa nhỏ nhất mới biết lẫy). Vai khoác chiếc túi vải đựng quần áo, tay xách bộ dụng cụ phẫu thuật, ông đi theo người liên lạc về phía thành phố Nam Định, nơi đang vọng lại những tiếng súng nổ.

Đêm hôm đó, trời tối đen như mực. Đi dọc theo bờ đê sông Ninh Cơ dưới làn gió lạnh như cắt, cha tôi nhớ lại một buổi chiều mùa hè năm 1937, sau khi tốt nghiệp bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Saint-Lazare ở thủ đô Paris, ông ngồi trên chiếc tàu chở khách rời cảng Marseille để trở về nước sum họp với gia đình sau mấy năm xa cách. Lúc đó, cha tôi đâu ngờ rằng gần mười năm sau, ông lại phải rời khỏi gia đình êm ấm, gác lại một bên những nỗi riêng tư để dấn thân vào cuộc kháng chiến gian lao và thử thách của cả dân tộc.

- Đến thị trấn Cổ Lễ, GS. Đặng Vũ Hỷ gia nhập Vệ quốc đoàn và phụ trách trạm quân y tiền phương. Sự khốc liệt của chiến trường Nam Định ngày ấy đã được cha Giáo sư ghi nhớ ra sao?

- GS. Đặng Vũ Minh: Chiến đấu ở mặt trận Nam Định ngày ấy là những người chiến sĩ hôm trước còn là nông dân, thợ thủ công, học sinh và cả những nhà sư cởi bỏ áo tu hành để cầm súng bảo vệ nền độc lập non trẻ của Tổ quốc.

Ở trạm quân y tiền phương, cha tôi thấy cả những phụ nữ sẵn sàng gạt đi mọi mặc cảm, tình nguyện xin đi tải thương và chăm sóc thương binh. Lúc đó, vũ khí, đạn dược, thuốc men và cả kinh nghiệm chiến đấu của ta đều thiếu, nhưng tinh thần yêu nước của bộ đội và nhân dân rất cao. Nhân dân nhường cả nhà cửa, đình chùa để đặt trạm quân y làm chỗ cấp cứu thương binh. Cha tôi đã chứng kiến cảnh tiễn đưa những đội cảm tử lên đường làm nhiệm vụ mà "nào có mong chi đến khi trở về". Cái không khí bi hùng của những ngày ấy đã theo cha tôi đến tận cuối đời.

Có lần, khi cha tôi đang mổ cho một thương binh bị thương vào bụng thì nghe tiếng súng sát gần. Một du kích địa phương hốt hoảng chạy đến báo tin địch đang tiến về phía trạm quân y. Biết rõ nếu ngừng mổ thì khó lòng cứu sống được thương binh, cha tôi kiên nhẫn khâu nốt những mũi cuối cùng. Ông vừa cùng mọi người chuyển thương binh về đến nơi an toàn thì địch cũng ập đến chỗ trạm quân y vừa đóng.

Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và sự nghiệp - NXB Y học/2009.
Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và sự nghiệp - NXB Y học/2009. Ảnh: NP

- Trong bài hồi ký của Giáo sư, có một câu chuyện rất xúc động về một em bé liên lạc bị thương ở mặt trận Ninh Bình. Câu chuyện ấy cụ thể ra sao, thưa Giáo sư?

- GS. Đặng Vũ Minh: Một hôm, người ta chuyển đến trạm quân y đóng ở xã Thanh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình một em liên lạc chừng 11, 12 tuổi, quần áo dính đầy bùn đất, một tay bị dập nát vì đạn giặc. Không kịp tiến hành phẫu thuật, cha tôi vội cầm máu, rửa thương rồi băng bó để chuyển về tuyến sau. Nhìn em liên lạc nằm im lặng, mặt tái đi vì đau và mất máu, cha tôi nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em còn dính những vết máu khô và hỏi:

- "Tây nó bắn như vậy, em có sợ không?"

Em liên lạc nghiến răng, cố nén đau và lắc đầu.

Cha tôi kể lại rằng trong suốt cuộc đời làm thầy thuốc của mình, ông không bao giờ quên được em liên lạc đã được cứu chữa trong ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau đó, em được chuyển về bệnh viện quân y ở xã Ninh Xuân (Hoa Lư, Ninh Bình) và Bác sĩ Nguyễn Trình Cơ đã tiến hành phẫu thuật cắt cánh tay bị dập nát. Về sau, Bác sĩ Nguyễn Trình Cơ đã kể lại việc này trong truyện ngắn "Em Ngọc". Sau năm 1954, câu chuyện này được đưa vào sách giáo khoa môn Văn trong các trường phổ thông ở miền Bắc.

Điều kỳ diệu là cuối năm 1994, tại một hội thảo về phát triển giáo dục miền núi tổ chức ở thị trấn Tam Đảo (Vĩnh Phúc), đồng chí Trịnh Ngọc Trình - Giám đốc Tổ chức Hỗ trợ và Phát triển giáo dục miền núi - đã tìm gặp tôi. Đồng chí cho biết cha tôi chính là người thầy thuốc đã cứu chữa cho ông khi ông bị thương ở mặt trận Ninh Hải năm xưa. Gần nửa thế kỷ trôi qua, "Em Ngọc" ngày nào vẫn nhớ đến người thầy thuốc đầu tiên cứu mình. Lúc đó tôi càng thấm thía lại nhận xét của cha tôi: "Nghề thầy thuốc là nghề cứu nhân độ thế, ơn nghĩa nặng lắm".

long-nhan-vi.png

- GS. Đặng Vũ Hỷ là một nhà nghiên cứu y học có gần 50 công trình, nhưng ông luôn ưu tiên các phương pháp điều trị hiệu quả với chi phí thấp cho người lao động. Triết lý khoa học đi đến tận giường bệnh đã được ông thực hành như thế nào thưa ông?

- GS. Đặng Vũ Minh: Tôi nhớ nhất câu chuyện lúc bấy giờ chữa bệnh sán vịt cho bà con ở nông trường Rạng Đông. Người dân xuống cắt cói bị con sán vịt cắn gây mẩn ngứa khổ lắm. Người ta đã thử đủ loại thuốc nọ thuốc kia nhưng không ăn thua.

Cuối cùng cha tôi tìm thấy một loại dầu thực vật bôi lên thì sán vịt không cắn nữa. Và để thực hành việc này, chính ông đã tự bôi loại dầu đó lên chân mình, rồi lội xuống ruộng đứng xem sán có cắn hay không. Kết quả đúng là nó không cắn! Việc đó cho thấy ông luôn dùng những biện pháp hết sức đơn giản, chi phí tối thiểu để cứu chữa cho người dân lao động nghèo.

- GS. Đặng Vũ Hỷ không chỉ tận tụy với bệnh nhân mà lòng nhân ái của ông dường như không có ranh giới. Sự nhân văn ấy đã được ông thể hiện ra sao trong cách ứng xử thực tế, kể cả với những người ở phía bên kia chiến tuyến?

- GS. Đặng Vũ Minh: Một kỷ niệm mà tôi vẫn nhớ, vào năm 1954, khi gia đình tôi ở gần bệnh viện của Trường Đại học Y khoa tại xã Lang Quán (Yên Sơn, Tuyên Quang). Một buổi sáng, cha tôi dẫn tôi sang bệnh viện nằm sâu trong rừng để tránh máy bay. Sau khi thăm thương bệnh binh, cha tôi dẫn tôi vào một lán nhỏ di động. Trong lán có một tù binh người Pháp râu ria tua tủa, mặt tái mét, nằm co ro trên sạp nứa. Anh ta là tù binh bị bắt ở chiến dịch Điện Biên Phủ, sau Hiệp định Geneva được giải về Tuyên Quang để chuẩn bị trao trả nhưng bị sốt rét nặng.

Cha tôi khám xong, sờ tay lên trán người tù binh rồi nhắc chị y tá: "Hôm nay anh ta đã đỡ sốt nhưng vẫn phải tiếp tục tiêm theo đơn". Quay lại phía người tù binh, cha tôi nói một câu bằng tiếng Pháp. Anh ta ngước cặp mắt trắng dã nhìn cha tôi, lắp bắp: - Méc-xi, méc-xi (Cảm ơn, cảm ơn).

Năm ấy tôi mới 8 tuổi, vẫn còn bị ám ảnh bởi những cảnh chết chóc đau thương do bom đạn Pháp gây ra. Ra khỏi lán, tôi kéo tay cha:

- Ba ơi, tại sao ba chữa cho thằng Tây?

Cha tôi dừng lại một lát rồi giải thích: - Nó đã chịu đầu hàng (hàng phục) rồi. Ba chữa cho nó khỏi bệnh để nó trở về với gia đình, con ạ. Dù sao, nó cũng là một con người.

Đó là bài học nhân đạo đầu tiên của người chiến thắng đối với kẻ thù đã hạ súng mà tôi được cha dạy.

- Đối với GS. Đặng Vũ Hỷ, mỗi chẩn đoán y khoa không chỉ là khoa học mà còn quyết định cả một số phận. Sự cẩn trọng cùng lòng bao dung ấy đã được thể hiện ra sao?

gs.vs-dang-vu-minh-1-.jpg
GS. Đặng Vũ Minh say sưa kể về cha của ông. Ảnh: Hà Tuấn

- GS. Đặng Vũ Minh: Năm 1958, gia đình tôi trở về Hà Nội được 4 năm. Xóm nhà tôi có một người đàn ông mắc bệnh nan y. Một đêm, cả nhà tôi thức dậy vì tiếng ồn ào, tiếng khóc thút thít rồi tiếng kêu hốt hoảng: "Có người treo cổ tự tử!".

Nghe tiếng kêu, cha tôi chạy sang ngay. Người ta chỉ tay vào một thân người treo lơ lửng ở góc bếp. Dưới ánh sáng mờ mờ, cha tôi nhận ra người đàn ông mắc bệnh nan y. Sờ tay vào người ông ta, cha tôi thấy vẫn còn ấm. Cha tôi nghĩ: "Nếu gỡ xuống làm hô hấp nhân tạo ngay, biết đâu có thể cứu được". Những người xung quanh sợ quá không ai dám giúp. Một mình cha tôi bê ghế, gỡ sợi dây treo cổ, hạ nạn nhân xuống đất rồi làm hô hấp nhân tạo suốt 10 phút. Nhưng muộn mất rồi, nạn nhân đã chết.

Sáng ra, công an đến lập biên bản khám nghiệm hiện trường. Tất nhiên, cha tôi phải giải trình về việc tự động gỡ nạn nhân xuống làm mất một dấu vết cần thiết cho công tác điều tra. Khi có người hỏi tại sao lại mạo hiểm làm như vậy, cha tôi bình thản trả lời: "Tôi là thầy thuốc. Chừng nào còn hy vọng cứu chữa thì không thể bỏ nạn nhân".

“

Nhiều năm về sau, tuy không theo nghề y nhưng tôi cũng tham gia hoặc chủ trì nhiều hội đồng giám định trọng yếu liên quan đến số phận con người. Lời dặn năm xưa của cha tôi về trách nhiệm của người làm chuyên môn vẫn còn văng vẳng bên tai.

GS. Đặng Vũ Minh

Còn năm 1969, tại Bệnh viện Bạch Mai, người ta đề nghị cha tôi khám cho một bệnh nhân là cán bộ để xác định ông ta có bị bệnh lậu không. Hồi ấy, cha tôi bị bệnh liệt rung (Parkinson) nên viết rất khó khăn. Ông đọc cho tôi ghi lại biên bản khám bệnh. Sau khi mô tả các triệu chứng, cha tôi kết luận: "Bệnh nhân bị mắc bệnh lậu do quan hệ nam nữ với người mắc bệnh lậu...". Cha tôi băn khoăn suy nghĩ khá lâu rồi đọc tiếp: "...hoặc dùng chung đồ dùng với người mắc bệnh lậu".

Tôi ngước nhìn cha, thắc mắc: - Tại sao ba lại thêm đoạn sau vào biên bản?

Cha tôi giải thích: - Bệnh lậu có thể lây trực tiếp hoặc lây gián tiếp qua đồ dùng chung. Mặc dù khả năng lây qua đồ dùng chung không cao, nhưng vẫn phải đưa vào biên bản cho đầy đủ. Khẳng định ngay là do lây trực tiếp, nhỡ oan cho người ta thì sao?

Nhiều năm về sau, tuy không theo nghề y nhưng tôi cũng tham gia hoặc chủ trì nhiều hội đồng giám định trọng yếu liên quan đến số phận con người. Lời dặn năm xưa của cha tôi về trách nhiệm của người làm chuyên môn vẫn còn văng vẳng bên tai.

người đồng hành

- Thưa Giáo sư, để có được sự nghiệp xuất sắc và trọn vẹn y đức của GS. Đặng Vũ Hỷ giữa những năm tháng gian khổ, vai trò của người vợ - thân mẫu của Giáo sư đã đóng góp như thế nào?

- GS. Đặng Vũ Minh: Mẹ tôi vốn xuất thân từ một gia đình tiểu thư quý tộc (con gái Thượng thư Phạm Quỳnh), nhưng bà đã chịu đựng tất cả khi sống cùng cha tôi. Những năm ở chiến khu, trong căn nhà lá sát khu rừng, cha tôi làm việc ở bệnh viện và giảng dạy ở Trường Đại học Y khoa Hà Nội sơ tán, còn mẹ tôi ở nhà trồng rau, nuôi gà.

Tôi nhớ có hôm một con rắn rất to bò vào nhà, ba mẹ con sợ quá phải leo hết lên giường ngồi vì không đánh nổi nó, mãi sau có một bà người Tày đi qua lấy đòn gánh đánh chết. Mẹ tôi chấp nhận hết những cảnh sống gian khổ ấy. Đặc biệt, tôi không bao giờ thấy cha mẹ kêu ca trước mặt con cái, tất cả đều im lặng chịu đựng.

gia-dinh-sinh-nhat-2-cu_2.jpg.webp

Sau này, khi cha tôi bị Parkinson run tay không viết được, chính mẹ tôi là người ngồi bên cạnh chép lại từng lời cha đọc. Cha tôi nhớ lại kiến thức để đọc giáo trình khám bệnh cho sinh viên, và mẹ tôi nắn nót viết lại bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Cuốn sổ tay ấy chính là kỷ niệm vô giá của cả bố và mẹ tôi.

- Những ngày cuối đời của GS.BS Đặng Vũ Hỷ tại Trung Quốc vào năm 1972 đã diễn ra như thế nào, thưa Giáo sư?

- GS. Đặng Vũ Minh: Năm 1971, cha tôi bị ốm nặng và được Bộ Y tế đưa sang điều trị tại Quảng Châu (Trung Quốc). Đến mùa thu năm 1972, khi nhận được tin điện báo bệnh tình của cha tôi rất nặng, tôi được Bộ Y tế giúp đỡ làm thủ tục sang Quảng Châu gấp.

Tàu đến Quảng Châu vào một đêm mưa như trút nước. Tôi được đưa thẳng vào phòng cấp cứu hồi sức của Bệnh viện tỉnh Quảng Đông. Cha tôi nằm đó, thiêm thiếp trên giường bệnh. Tôi quỳ xuống bên giường, nắm lấy bàn tay khô và lạnh ngắt của cha, nghẹn ngào: - Ba ơi, con đã sang với ba đây. Ba có nhận ra con không?

Cha tôi mở mắt nhìn tôi, những giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo. Cha tôi ghé sát vào tai tôi, thều thào dặn dò: - Con... cố... đưa ba... về nước".

Đó là những lời cuối cùng của cha tôi trước khi ông qua đời vào ngày 4 tháng 10 năm 1972. Trong số giấy tờ ông để lại, tôi vô cùng xúc động khi tìm thấy một bức thư viết dở gửi Thủ tướng Chính phủ. Trong thư, với những nét chữ run run, cha tôi đề nghị Chính phủ chú ý đến việc phòng và chữa các bệnh hoa liễu đang có chiều hướng gia tăng ở miền Bắc từ cuối những năm 60, nhằm kịp thời ngăn chặn ảnh hưởng lâu dài tới nòi giống của dân tộc.

Cho đến ngày cuối cùng của đời mình, vật lộn với bệnh tật ở nơi đất khách, cha tôi vẫn nhớ đến Tổ quốc thân yêu, trăn trở với những gì mà ông đã gắn bó cả cuộc đời.

phần 5

- Được biết, phải mất đúng 31 năm sau ngày GS. Đặng Vũ Hỷ qua đời, Giáo sư và gia đình mới tìm lại được phần mộ và đưa di hài ông trở về Việt Nam. Hành trình ấy đã diễn ra như thế nào?

- GS. Đặng Vũ Minh: Cha tôi mất ở Quảng Châu năm 1972. Do hoàn cảnh chiến tranh không thể đưa thi hài về nước, cha tôi được an táng trên một ngọn đồi ở ngoại ô Quảng Châu. Đến cuối những năm 70, do biến động trong quan hệ hai nước, gia đình tôi không thể sang Trung Quốc đưa di hài cha về được.

GS.VS Đặng Vũ Minh xúc động khi những kỷ niệm về cha của ông - GS. Đặng Vũ Hỷ ùa về.
GS.VS Đặng Vũ Minh xúc động khi những kỷ niệm về cha của ông - GS. Đặng Vũ Hỷ ùa về. Ảnh Hà Tuấn

Mãi đến năm 1992, tôi nhờ đồng chí Dương Danh Dy (lúc đó là Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu) và đồng chí Vũ Khoan (Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) giúp đỡ tìm mộ. Nhưng Quảng Châu có đến mấy nghĩa trang tên đều có mấy chữ "Cách mạng Liệt sĩ Công mộ" với hàng vạn ngôi mộ. Gia đình tưởng như đã hết hy vọng.

Thế rồi, một lần nhân dịp Tết Nguyên đán, Tổng Lãnh sự quán tại Quảng Châu tổ chức gặp mặt bà con Việt kiều. Trong buổi gặp, Tổng Lãnh sự hỏi thăm xem có ai biết thông tin gì không. Thật bất ngờ, một phụ nữ Việt kiều sang Trung Quốc từ năm 10 tuổi cho biết: Nhiều năm về trước, khi đi ngang qua nghĩa trang Ngân Hà, bà nhìn thấy một ngôi mộ dưới bụi trúc ở góc nghĩa trang có tấm bia khắc tên một giáo sư bằng chữ Việt Nam. Thương cảm người đồng hương không quen biết, từ đó cứ vào dịp Tết Nguyên đán và Tết Thanh minh, bà đều đến thắp hương trên ngôi mộ ông giáo sư Việt Nam đó.

Nhờ bức điện báo tin ấy, tôi không sao cầm được nước mắt. Mùa xuân năm 2003, tôi lại đến Quảng Châu. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của Tổng Lãnh sự quán, tôi đã hoàn tất thủ tục bốc mộ và đưa di hài cha tôi ra sân bay trở về nước.

Hôm ấy, chiếc máy bay hạ cánh xuống sân bay Nội Bài vào một buổi chiều u ám. Tôi ôm chiếc lọ sứ đựng di hài của cha tôi, cẩn thận bước xuống từng bậc thang. Trước mắt tôi là cánh đồng lúa xanh bát ngát, xa xa là dãy núi Tam Đảo mờ mờ sau làn mưa bụi – hình ảnh của đất nước thân yêu mà cha tôi hằng mong nhớ. Tôi ghì chặt chiếc lọ sứ vào ngực, thầm nói với cha: "Ba ơi, sau 31 năm, con đã thực hiện được ước nguyện cuối cùng của ba: đưa ba trở về với quê hương, với gia đình".

- Nếu dùng một câu kết trọn vẹn nhất về di sản lớn nhất mà GS.BS Đặng Vũ Hỷ để lại cho đời, Giáo sư sẽ nói điều gì?

- GS. Đặng Vũ Minh: Tôi nghĩ, cái tài sản lớn nhất mà cha tôi để lại đó chính là tình thương yêu đối với mọi người, trước hết là đối với những người bệnh. Và có lẽ đó là điều lớn nhất trong suốt đời mình tôi học được từ cha tôi.

- Trân trọng cảm ơn GS.TSKH Đặng Vũ Minh về cuộc trò chuyện vô cùng xúc động và giá trị này!

Bài: Nam Phong- ảnh, video: Hà Tuấn