GS.TSKH Trần Đình Long - Viện sĩ của nhà nông Kỳ 2: Đưa thành quả nghiên cứu đến với nông dân là bài toán lớn của ngành giống Việt Nam
Công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tạo và năng lực của các nhà khoa học đang mở ra nhiều cơ hội cho công tác chọn tạo giống cây trồng. Nhưng từ kết quả nghiên cứu đến sản xuất thực tế vẫn còn những khoảng cách cần được tháo gỡ. Kì trước, GS.VS.TSKH Trần Đình Long đã chia sẻ về vai trò của khoa học công nghệ, AI và kinh nghiệm của nhà chọn giống trong hành trình tạo ra những giống cây trồng có giá trị. Nhưng phía sau mỗi thành tựu ấy vẫn còn một câu hỏi không dễ trả lời…

Đó là vì sao kết quả nghiên cứu chưa phải lúc nào cũng đi được đến đồng ruộng và trở thành lựa chọn của người nông dân? Từ câu chuyện công nghệ, cuộc trò chuyện giữa GS.VS.TSKH Trần Đình Longcùng Cà phê Một Thế Giới tiếp tục mở ra những vấn đề về cơ chế đầu tư, sự phối hợp giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp, cũng như con đường thương mại hóa các kết quả khoa học.

- Nếu công nghệ đã mở ra nhiều khả năng mới, câu hỏi tiếp theo là vì sao những khả năng ấy chưa được chuyển hóa tương xứng thành sản phẩm trên thị trường. Từ thực tế hoạt động của các viện nghiên cứu và doanh nghiệp giống, ông nhìn thấy những điểm nghẽn nào đang cản trở quá trình này?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Theo tôi, trước hết phải phân định rõ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Nghiên cứu cơ bản, chẳng hạn nghiên cứu di truyền hay xây dựng ngân hàng gen, chưa thể tạo ra tiền ngay. Nhưng đó là nền tảng để phát triển các kết quả nghiên cứu tiếp theo, vì vậy không thể bỏ qua. Nhà nước cần đầu tư cho nghiên cứu cơ bản bởi đây là lĩnh vực cần nguồn lực dài hạn và có rủi ro.


Trong khi đó, nghiên cứu ứng dụng có thể gắn với doanh nghiệp. Khi viện nghiên cứu tạo ra giống mới, doanh nghiệp tham gia nhân giống, tổ chức sản xuất và thương mại hóa, kết quả có thể được đưa ra thị trường trên quy mô lớn hơn.
Hai loại nghiên cứu có quan hệ chặt chẽ nhưng không thể áp dụng cùng một cách đánh giá và cơ chế đầu tư. Nếu yêu cầu nghiên cứu cơ bản phải nhanh chóng tạo ra doanh thu thì rất khó thực hiện. Nhưng nếu nghiên cứu ứng dụng không gắn với doanh nghiệp và nhu cầu thị trường thì kết quả cũng khó được nhân rộng.
Một vấn đề khác là cơ chế khai thác nguồn lực nghiên cứu. Các viện có thể có phòng thí nghiệm, thiết bị hiện đại và đất đai phục vụ nghiên cứu, nhưng nếu cơ chế hợp tác với doanh nghiệp còn vướng mắc thì những nguồn lực ấy chưa được sử dụng hiệu quả.
Doanh nghiệp cần phòng thí nghiệm hiện đại để nghiên cứu và phát triển sản phẩm, nhưng khi hợp tác lại gặp khó khăn về cơ chế quản lí tài sản, đất đai và cách sử dụng cơ sở vật chất. Doanh nghiệp giống cần đất để nghiên cứu, nhân giống và tổ chức sản xuất, nhưng nếu chi phí đất không phù hợp với đặc thù của ngành thì họ sẽ gặp khó khăn.
Sản xuất giống phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu và chu kì sinh trưởng của cây trồng. Đây không hoàn toàn giống hoạt động của một doanh nghiệp công nghiệp thông thường. Hơn nữa, giống cây trồng liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực và sinh kế của người dân. Vì vậy, chính sách cần tính đến đặc thù ấy.

- Có một nghịch lý đáng suy nghĩ: Số giống được công nhận không đồng nghĩa với số giống được nông dân sử dụng rộng rãi. Theo ông, cần thay đổi cách tổ chức nghiên cứu và thương mại hóa ra sao để thu hẹp khoảng cách này?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Theo tôi, cần tăng cường mối liên kết giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp, thậm chí phát triển mô hình nghiên cứu ngay trong doanh nghiệp.
Mỗi năm có thể có nhiều giống được công nhận, nhưng số giống được đưa vào sản xuất trên diện tích lớn lại ít hơn nhiều. Một giống được công nhận không có nghĩa là đã giải quyết xong mọi vấn đề. Sau đó còn phải nhân giống, tổ chức sản xuất, tìm đầu ra và xây dựng thị trường.
Nếu doanh nghiệp tham gia từ đầu, họ có thể xác định rõ thị trường đang cần loại giống nào, yêu cầu về chất lượng ra sao và quy mô sản xuất dự kiến thế nào. Viện nghiên cứu dựa vào đó để xác định mục tiêu, còn doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức sản xuất và thương mại hóa.
Tất nhiên, không phải nghiên cứu nào cũng có thể đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp. Nghiên cứu cơ bản vẫn cần được Nhà nước đầu tư. Nhưng đối với nghiên cứu ứng dụng, việc gắn với nhu cầu thực tế là rất quan trọng.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo ra một giống mới trên giấy tờ, mà là tạo ra giống có giá trị, được nông dân sử dụng và đem lại hiệu quả cho sản xuất.

- Một hệ thống nghiên cứu muốn vận hành hiệu quả còn cần người làm khoa học có điều kiện theo đuổi công việc lâu dài. Theo ông, cơ chế đãi ngộ, bảo hộ kết quả nghiên cứu và chia sẻ lợi ích cần được thiết kế như thế nào để vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo đảm quyền lợi của người sản xuất?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Đời sống của nhà khoa học là vấn đề cần được quan tâm. Nếu thu nhập không đủ bảo đảm cuộc sống, nhiều người phải làm thêm hoặc tìm cách tạo nguồn thu khác, thời gian dành cho nghiên cứu sẽ bị ảnh hưởng. Nhà nước cần có cơ chế phù hợp để khuyến khích những người có năng lực, có công trình và đóng góp thực chất cho xã hội. Bên cạnh thu nhập, môi trường làm việc và điều kiện nghiên cứu cũng rất quan trọng.
Về quyền đối với kết quả nghiên cứu, tôi cho rằng cần có cơ chế bảo hộ và chia sẻ lợi ích hợp lí. Chẳng hạn, đối với việc sử dụng giống ở quy mô lớn trong sản xuất thương mại, có thể nghiên cứu cơ chế trích một tỉ lệ phù hợp để quay trở lại cho tác giả và hoạt động nghiên cứu.
Việc sử dụng hạt giống trong phạm vi hộ nông dân nhỏ lẻ không thể đánh đồng với việc sử dụng giống trên quy mô lớn của doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất thương mại. Chính sách cần tính đến những khác biệt ấy để vừa bảo đảm quyền lợi của người nghiên cứu, vừa không gây khó khăn cho nông dân.
Nếu kết quả nghiên cứu được bảo vệ, nhà khoa học có động lực tiếp tục đầu tư công sức, còn doanh nghiệp có cơ sở để hợp tác lâu dài. Đó là một phần quan trọng trong việc xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng công nghệ.


- Từ cơ chế nghiên cứu, đất đai, đãi ngộ đến liên kết doanh nghiệp, những vấn đề ông nêu đều vượt ra ngoài phạm vi chuyên môn của từng nhà khoa học. Có phải vì vậy mà ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò quản trị trong phát triển nông nghiệp?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Nông nghiệp là lĩnh vực rộng, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi, môi trường, phát triển nông thôn và kinh tế biển. Các lĩnh vực này có quan hệ với nhau, vì vậy việc tổ chức và điều phối có ý nghĩa rất quan trọng.
Theo tôi, Việt Nam có nguồn gen, có công nghệ, có nguồn lực và có nhiều nhà khoa học. Nhưng nếu cơ chế phối hợp chưa tốt, các nguồn lực ấy sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả.
Nghị quyết 57 và các chủ trương liên quan mở ra định hướng tích cực. Điều cần làm tiếp theo là tổ chức thực hiện sao cho đúng mục tiêu, giải quyết được những vướng mắc cụ thể và tạo điều kiện để các viện nghiên cứu, doanh nghiệp, địa phương cùng tham gia.
Khoa học không thể tách rời sản xuất. Doanh nghiệp không thể phát triển nếu thiếu công nghệ và nguồn giống tốt. Nông dân cũng khó nâng cao thu nhập nếu thiếu đầu ra và cơ chế chia sẻ lợi ích. Vì vậy, phải nhìn toàn bộ hệ thống, thay vì giải quyết từng khâu một cách rời rạc.
Việt Nam không thiếu giống, công nghệ hay vốn. Cái còn yếu là quản trị.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long


- Khi nhắc đến nông nghiệp thông minh, nhiều người thường nghĩ đến nhà kính, cảm biến, máy bay không người lái hay hệ thống tự động hóa. Nhưng qua những vấn đề ông vừa phân tích, có thể thấy công nghệ không chỉ nhằm tăng năng suất mà còn phải giải quyết bài toán giá trị và môi trường. Theo ông, đâu mới là thước đo của một nền nông nghiệp thông minh?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Nhà kính, cảm biến và các công nghệ tự động hóa là những thành phần quan trọng của nông nghiệp thông minh. Nhờ công nghệ, người sản xuất có thể kiểm soát tốt hơn độ ẩm, nước, phân bón và nhiều yếu tố trong quá trình canh tác.
Nhưng nông nghiệp thông minh không chỉ có những thiết bị hiện đại. Điều quan trọng là phải tạo ra sản phẩm có giá trị cao và thân thiện với môi trường.
Tôi lấy ví dụ cây đậu tương. Khi luân canh đậu tương với lúa trên đất hai vụ ở đồng bằng sông Hồng, cây họ đậu có thể góp phần cải thiện độ phì của đất nhờ khả năng cố định đạm. Theo những tính toán tôi đã nêu, mỗi vụ đậu tương có thể để lại trong đất khoảng 30-60 kg đạm nguyên chất/ha, tương đương hơn 100 kg urê. Như vậy, cây đậu tương không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn góp phần hỗ trợ vụ lúa tiếp theo.
Tuy nhiên, nếu chỉ bán đậu tương dưới dạng hạt thì giá trị thu được vẫn còn hạn chế. Một ha có thể cho khoảng 2,5 tấn hạt. Nếu bán hạt, doanh thu có thể vào khoảng 50 triệu đồng; nếu chế biến thành sữa đậu nành, giá trị có thể tăng lên đáng kể. Những sản phẩm chế biến sâu hơn như natto hoặc các sản phẩm chiết xuất isoflavone còn mở ra những mức giá trị khác.
Các con số cụ thể phụ thuộc vào quy trình chế biến, chi phí, chất lượng và thị trường tiêu thụ. Nhưng ví dụ này cho thấy cùng một nguồn nguyên liệu, nếu biết tổ chức chế biến và phát triển sản phẩm, giá trị tạo ra có thể khác xa so với việc chỉ bán nguyên liệu thô.


- Nếu giá trị gia tăng chủ yếu hình thành ở khâu chế biến và thương mại, làm thế nào để người trực tiếp sản xuất không bị đứng ngoài phần giá trị ấy? Bởi nếu nông dân phải đầu tư nhiều hơn, tuân thủ quy trình nghiêm ngặt hơn nhưng lợi ích không tương xứng, rất khó yêu cầu họ thay đổi cách làm.
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Đây là vấn đề rất quan trọng. Muốn nông dân sản xuất theo quy trình tốt, bảo đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp thì phải có cơ chế để họ được hưởng lợi.
Nếu chỉ yêu cầu nông dân làm theo quy trình nhưng không bảo đảm đầu ra và lợi ích kinh tế, họ sẽ khó duy trì lâu dài. Vì vậy, cần có liên kết chặt chẽ giữa người trồng, doanh nghiệp chế biến và thị trường. Nông dân phải biết sản phẩm mình làm ra sẽ được tiêu thụ như thế nào, tiêu chuẩn ra sao và giá trị được phân chia thế nào.
Tôi cũng từng đề xuất ý tưởng trích một phần nguồn thu từ xuất khẩu gạo để quay trở lại đầu tư cho nghiên cứu. Chẳng hạn, nếu mỗi tấn gạo xuất khẩu trích một USD cho nghiên cứu thì với sản lượng khoảng 9 triệu tấn, nguồn lực tạo ra sẽ đáng kể. Tất nhiên, để thực hiện được phải có cơ chế cụ thể và sự đồng thuận của các bên.
Điều quan trọng là phải nhìn nông nghiệp như một chuỗi giá trị. Nếu chỉ tập trung vào sản xuất mà không giải quyết khâu chế biến, thị trường và phân chia lợi ích, người nông dân sẽ khó có được thu nhập tương xứng với công sức bỏ ra.

- Ông vừa nhắc đến đậu tương, gạo. Đây đều là những nguồn nguyên liệu có thể tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau. Theo ông, tư duy chế biến sâu cần bắt đầu ngay từ khâu chọn giống như thế nào để tránh tình trạng sản xuất được nhiều nhưng giá trị thu về vẫn thấp?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Nếu muốn tạo ra sản phẩm có giá trị cao thì phải tính đến yêu cầu chế biến ngay từ đầu, trong đó có việc lựa chọn giống phù hợp.
Chẳng hạn, với lúa gạo, ngoài sản phẩm gạo ăn thông thường còn có thể phát triển nhiều sản phẩm từ phụ phẩm. Cám gạo có thể được sử dụng để sản xuất dầu; vỏ trấu có thể được chế biến thành than hoạt tính. Nếu biết khai thác tốt, giá trị thu được sẽ cao hơn so với việc chỉ bán sản phẩm thô.
Một ví dụ khác là ca cao, có những vùng có nguyên liệu chất lượng tốt, có thể làm ra sô-cô-la chất lượng cao. Cà phê cũng vậy. Nếu chỉ xuất khẩu nguyên liệu thì phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước sẽ bị hạn chế.
Do đó, cần kết hợp chọn giống, quy trình canh tác, chế biến và xây dựng thương hiệu. Một giống cây trồng có thể rất tốt về mặt sinh học, nhưng nếu không phù hợp với nhu cầu chế biến hoặc thị trường thì vẫn chưa phát huy hết giá trị.
Bên cạnh đó, phải quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen và các giống đặc sản gắn với điều kiện tự nhiên riêng. Những sản phẩm như bưởi Đoan Hùng hay sâm Ngọc Linh có giá trị gắn với vùng đất, khí hậu và thổ nhưỡng. Nếu mở rộng diện tích một cách thiếu kiểm soát, chất lượng đặc trưng có thể bị ảnh hưởng.
Vì thế, nông nghiệp thông minh không chỉ là ứng dụng công nghệ để sản xuất nhiều hơn, mà còn là sử dụng đúng nguồn lực, tạo ra sản phẩm có giá trị và giữ được những lợi thế riêng của nông nghiệp Việt Nam.



- Việt Nam đã có những giống cây trồng được công nhận, một số sản phẩm nông nghiệp có vị thế trên thị trường quốc tế. Nhưng nếu nhìn vào công nghiệp giống, từ sản xuất hạt giống, công nghệ nhân giống đến khả năng xuất khẩu, chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong khoảng 10 năm tới, đâu là những hướng ưu tiên mà ông cho rằng ngành giống cần tập trung?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Theo tôi, có hai hướng quan trọng. Thứ nhất là phát triển công nghiệp hạt giống. Muốn có ngành giống phát triển thì không chỉ dừng ở việc nghiên cứu và công nhận giống mới, mà còn phải có năng lực nhân giống, sản xuất, bảo quản và cung ứng giống trên quy mô lớn.
Đối với cây ăn quả, công nghệ nhân giống in vitro có thể giúp tạo ra số lượng lớn cây giống đồng đều, sạch bệnh. Tuy nhiên, năng lực công nghệ và tổ chức sản xuất trong lĩnh vực này vẫn cần được nâng cao.
Thứ hai là đa dạng hóa các nhóm giống, không chỉ tập trung vào cây lương thực. Rau, hoa cao cấp và cây dược liệu đều có tiềm năng tạo ra giá trị lớn.
Nhiều giống rau và hoa hiện vẫn phải nhập khẩu. Trong khi đó, Việt Nam có điều kiện tự nhiên đa dạng và nguồn gen phong phú. Nếu đầu tư bài bản vào nghiên cứu, công nghệ nhân giống và phát triển thị trường, chúng ta có thể giảm sự phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu, đồng thời từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường giống quốc tế.
Chúng ta cũng cần tăng cường xuất khẩu giống. Hiện giống Việt Nam đã được đưa sang một số thị trường như Lào, Campuchia, Trung Quốc và Đài Loan, nhưng tỉ lệ vẫn còn hạn chế.
Để phát triển thị trường này, phải có giống đáp ứng yêu cầu của từng khu vực, có quy trình sản xuất ổn định và có hệ thống cung ứng chuyên nghiệp. Công nghệ cao cần được đầu tư vào những lĩnh vực có giá trị lớn, thay vì chỉ tập trung vào những nhóm sản phẩm quen thuộc.

- Với một người đã dành phần lớn cuộc đời cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống, ông vẫn đang tiếp tục làm việc, tư vấn cho doanh nghiệp và hướng dẫn các nhà khoa học trẻ. Điều gì khiến ông chưa muốn dừng lại, và ông kì vọng thế hệ kế tiếp sẽ tiếp tục con đường này theo cách nào?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Tôi vẫn tiếp tục công việc vì còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và còn những việc có thể đóng góp cho nông nghiệp.
Hiện nay, tôi vẫn tham gia nghiên cứu giống đậu tương, trong đó có những công việc gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Chẳng hạn, doanh nghiệp có nhu cầu về nguồn giống trong nước để phục vụ sản xuất, chế biến. Nếu tổ chức được vùng nguyên liệu, có giống phù hợp và đầu ra ổn định thì nông dân có thêm cơ hội tham gia.
Đậu tương là cây trồng có nhiều lợi ích, vừa cung cấp nguyên liệu, vừa góp phần cải thiện đất. Nhưng muốn phát triển diện tích thì phải giải quyết được bài toán thị trường. Có doanh nghiệp thu mua, chế biến và có nhu cầu ổn định thì nông dân mới có cơ sở để sản xuất lâu dài.
Bên cạnh nghiên cứu, tôi còn tham gia công tác của Hội Giống cây trồng Việt Nam, trao đổi chuyên môn và hỗ trợ phổ biến những giống tốt đến nông dân. Tôi cũng quan tâm đến việc đào tạo thế hệ kế tiếp.
Trong nhiều năm, tôi đã giảng dạy, hướng dẫn hàng nghìn sinh viên, đào tạo 35 tiến sĩ chuyên ngành Di truyền chọn giống cây trồng và Khoa học cây trồng. Khi gặp lại học trò, thấy họ trưởng thành và có những đóng góp cho ngành, tôi rất vui. Mỗi người có con đường riêng, còn người thầy chỉ góp một phần vào quá trình ấy.


- Nếu được trở lại thời điểm bắt đầu sự nghiệp, khi còn là một nhà khoa học trẻ và chưa có những điều kiện công nghệ như hiện nay, ông sẽ muốn nhắn gửi điều gì với thế hệ đang bước vào lĩnh vực nông nghiệp thông minh?
- GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Tôi cho rằng người trẻ phải biết đứng trên vai những người khổng lồ, nghĩa là tiếp thu tri thức và thành tựu của những người đi trước, của thế giới, rồi phát triển bằng năng lực sáng tạo của mình.
Ngày nay, các nhà khoa học trẻ có nhiều điều kiện tiếp cận kiến thức, công nghệ và các công trình nghiên cứu quốc tế. Đó là lợi thế rất lớn. Nhưng tiếp thu không có nghĩa là sao chép. Phải biết kết hợp kiến thức hiện đại với nguồn gen bản địa, điều kiện tự nhiên và yêu cầu thực tế của Việt Nam để tạo ra sản phẩm có giá trị riêng.
Tôi cũng cho rằng học tập phải diễn ra suốt đời. Nhà khoa học học từ sách vở, từ thầy cô, từ đồng nghiệp, từ thực tiễn sản xuất và từ chính người nông dân.
Nông nghiệp hiện nay đã khác rất nhiều so với trước. Công nghệ cao, công nghệ sinh học, AI và những phương pháp hiện đại đang mở ra nhiều cơ hội. Tôi mong người trẻ quan tâm hơn đến lĩnh vực này, bởi nông nghiệp không chỉ là sản xuất lương thực mà còn liên quan đến công nghệ, môi trường, sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Nếu có kiến thức, đam mê và niềm tin vào công việc mình làm, người trẻ có thể tạo ra những đóng góp thiết thực. Tôi tin rằng giống cây trồng Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát triển và có thể giúp nhiều quốc gia giải quyết những vấn đề về sản xuất lương thực.
Với tôi, điều quan trọng nhất vẫn là nghiên cứu phải gắn với thực tiễn, giống tốt phải đến được với nông dân và kết quả khoa học phải tạo ra giá trị cho xã hội.


Buổi trò chuyện kéo dài hơn dự định. Khi chúng tôi đứng dậy nói lời cảm ơn, nắng thu đã nghiêng, đổ một vệt vàng trên nền gạch cũ. Ông tiễn chúng tôi ra tận cửa. Tôi ngoái lại, thấy người giáo sư đã ở tuổi 86 vẫn giữ ánh mắt sáng và sự say mê mỗi khi nói về những hạt giống.
Ông không nhắc nhiều đến danh hiệu hay những phần thưởng đã nhận. Điều ông nói nhiều nhất vẫn là giống cây trồng, người nông dân và thế hệ trẻ. Có lẽ, với một nhà khoa học đã dành phần lớn cuộc đời cho đồng ruộng, thành quả không chỉ nằm ở những giống cây được công nhận, mà còn ở việc tri thức có thể tiếp tục được trao truyền và tạo ra giá trị cho những mùa vụ sau.

Năm 2026, việc ông ra mắt cuốn sách Tuyển tập các công trình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương tại Việt Nam (Nhà xuất bản Tri thức) cũng là một dấu mốc trong hành trình ấy - khi những trải nghiệm, suy ngẫm và bài học tích lũy qua nhiều năm làm khoa học có thêm cơ hội đến với bạn đọc, đặc biệt là những người trẻ đang lựa chọn con đường nghiên cứu. Bởi với ông, học tập chưa bao giờ là hành trình có điểm dừng.
Trên đường về, tôi nghĩ đến lời ông từng chia sẻ: Phải học cho đến hơi thở cuối cùng. Đó không chỉ là lời khuyên dành cho người trẻ, mà còn là cách ông đã sống và làm khoa học suốt nhiều thập niên.
Có những người không cần nói nhiều về cống hiến. Họ lặng lẽ gieo, bền bỉ chăm chút, rồi đợi mùa. Và trên những cánh đồng Việt Nam, những hạt giống mang dấu ấn của GS.VS.TSKH Trần Đình Long vẫn đang tiếp tục nảy mầm, như cách tri thức được trao truyền, từ thế hệ này sang thế hệ khác.


