Cuộc đời nhà khoa học

Klaus Fuchs (kì 3): Cuộc thẩm vấn nhà khoa học Đức đem bí mật bom nguyên tử Mỹ cho Liên Xô

Bùi Tú •

Tháng 8/1949, quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô phát nổ trên thảo nguyên Kazakhstan, phá tan thế độc quyền hạt nhân phương Tây. Giữa cơn địa chấn ấy, bức màn bí mật bao phủ Klaus Fuchs chính thức bị xé rách.

Klaus Fuchs kỳ 3

Việc Klaus Fuchs bị bắt tại London làm rung chuyển cả thế giới. Nhưng trước những cuộc thẩm vấn cam go và bản án khắc nghiệt, nhà vật lí kiệt xuất vẫn giữ nguyên sự điềm tĩnh lạ thường. Đằng sau bí mật bị xới tung là một tâm hồn thanh thản, bởi ông biết mình đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vì thế cân bằng hòa bình.

Cơn địa chấn năm 1949 và bí mật không thể chôn giấu của Klaus Fuchs

Vào một ngày cuối tháng 8/1949, chiếc máy bay do thám thời tiết WB-29 được trang bị hệ thống lọc khí đặc biệt của Không quân Mỹ khi đang thực hiện chuyến bay tuần tra ngoài khơi Siberia đã thu thập được những mẫu bụi khí quyển bất thường. Khi các bộ lọc phóng xạ được gửi về phòng thí nghiệm phân tích, kết quả lập tức tạo ra một cơn địa chấn hốt hoảng trong giới lãnh đạo Washington: Tàn dư hóa học cho thấy Liên Xô vừa thực hiện thành công cuộc thử nghiệm bom nguyên tử đầu tiên (mang mã hiệu RDS-1) trên thảo nguyên Semipalatinsk, Kazakhstan. Tổng thống Mỹ Harry Truman bàng hoàng đến mức ban đầu không thể tin rằng phía Liên Xô lại có thể làm chủ một công nghệ vô cùng phức tạp và tinh vi như vậy sớm đến thế.

Thế độc quyền vũ khí hạt nhân mà giới chính trị phương Tây từng đinh ninh sẽ kéo dài hàng thập kỉ đã chính thức sụp đổ chỉ sau bốn năm ngắn ngủi. Dưới mắt người dân Mỹ và phương Tây, cảm giác an toàn tuyệt đối nhường chỗ cho nỗi sợ hãi tột cùng về sự tổn thương. Giờ đây, đối thủ lớn nhất của họ cũng đã sở hữu sức mạnh san phẳng các đô thị. Câu hỏi nhức nhối lập tức bao trùm lấy Lầu Năm Góc và Tòa Quốc hội Mỹ: Làm thế nào mà một quốc gia vừa bước ra khỏi đống đổ nát tàn phá của Thế chiến II lại có thể tiến nhanh đến thế trên con đường giải mã bí mật nguyên tử?

Klaus Fuchs 1
Tin tức Klaus Fuchs bị bắt giữ tại London nổ tung trên trang nhất các báo lớn khắp thế giới.

Câu trả lời nằm ở dự án giải mã tối mật mang tên VENONA, một chiến dịch tình báo chung giữa Mỹ và Anh nhằm bẻ khóa các bức điện mã hóa của Tình báo Xô Viết. Qua hàng ngàn mảnh ghép dữ liệu được phục hồi tỉ mỉ, các chuyên gia mã hóa phát hiện ra sự tồn tại của một điệp viên cừ khôi mang mật danh "Rest" (và sau này là "Charles") hoạt động ngay trong lòng Phái đoàn Anh tại Dự án Manhattan. Điệp viên này không chỉ cung cấp những bản vẽ thiết kế nguyên mẫu quả bom plutonium nổ dồn, mà còn chuyển giao cả những phương trình động lực học chất lưu và lí thuyết về bom H. Mọi manh mối tình báo sắc bén nhất cuối cùng đều dẫn về cùng một cái tên: Tiến sĩ Klaus Fuchs, Trưởng khoa Vật lí Lí thuyết tại Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Harwell.

Ngày 2/2/1950, chỉ hai ngày sau khi Tổng thống Truman tuyên bố khởi động chương trình khẩn cấp chế tạo bom hydro, tin tức Klaus Fuchs bị bắt giữ tại London nổ tung trên trang nhất các báo lớn khắp thế giới. Tin tức ấy giội một gáo nước lạnh xuống cộng đồng khoa học quốc tế. Tại Los Alamos, những nhà vật lí hàng đầu thế giới bàng hoàng không tin nổi vào tai mình. Nhà vật lí đoạt giải Nobel Hans Bethe chia sẻ rằng ông cảm thấy "sâu sắc bàng hoàng và kinh ngạc". Trong kí ức của Bethe và các đồng nghiệp, Fuchs là một nhà vật lí kiệt xuất, cẩn trọng, một người bạn hiền lành, tận tụy và luôn sống gương mẫu. Ông là người cuối cùng mà họ có thể nghi ngờ sống hai mặt hay phản bội lí tưởng.

Edward Teller, người từng cùng Fuchs trải qua hàng giờ liền tranh luận về lí thuyết bom H tại hội nghị năm 1946, cũng bàng hoàng trước sự thật. Một cảm giác e sợ bao trùm lấy giới chức an ninh Mỹ và Anh khi họ nhận ra quy mô tổn thất: phía Liên Xô không chỉ nắm trọn bí mật bom nguyên tử phân hạch, mà họ đã biết tất cả những gì phương Tây biết về bom nhiệt hạch.

Thế nhưng, trái ngược với sự hoảng loạn của giới chính trị và những dòng tít gào thét của truyền thông, Klaus Fuchs tiếp nhận việc vỏ bọc bí mật dần bị phơi bày với một thái độ điềm tĩnh đến kì lạ. Ông không phải là một gián điệp run rẩy khi sắp bị lột mặt nạ, cũng không phải một tội phạm hoảng hốt tìm đường trốn chạy. Khi thân phận che giấu bấy lâu bị xé rách, nhà khoa học trầm lặng ấy đứng trước lịch sử với sự thanh thản nội tâm tuyệt đối. Ông hiểu rằng chiếc lá chắn răn đe hạt nhân mà mình đánh đổi cả cuộc đời để xây dựng cho Liên Xô giờ đây đã trở thành một thực thể không thể lay chuyển, một bảo chứng sinh tử cho thế cân bằng của thế giới.

Cuộc đấu trí tâm lí với William Skardon

Cuối năm 1949, giữa lúc cơn địa chấn bom nguyên tử Xô Viết đang làm rung chuyển phương Tây, một cuộc đối thoại lặng lẽ nhưng kịch tính bậc nhất lịch sử tình báo diễn ra trong căn phòng làm việc giản dị tại Trung tâm Nghiên cứu Harwell. Ở một bên bàn là William Skardon, sĩ quan điều tra lão luyện của Cơ quan An ninh Nội địa Anh (MI5), người nổi tiếng với khả năng đọc vị tâm lí đối phương bằng sự lịch thiệp và kiên nhẫn đáng sợ. Ở bên kia bàn là Klaus Fuchs, nhà vật lí lí thuyết kiệt xuất, người đang mang trong mình bí mật có thể làm nghiêng ngửa cán cân quyền lực toàn cầu.

Không có những ngọn đèn rọi thẳng vào mặt, không có tiếng đập bàn giận dữ hay những lời đe dọa thô bạo thường thấy trong các phòng thẩm vấn tội phạm. Skardon hiểu rằng trước một trí tuệ tầm vóc như Fuchs, mọi thủ thuật tra tấn hay áp lực thể xác đều hoàn toàn vô hiệu. Ông chọn tiếp cận Fuchs bằng sự tôn trọng, bằng những tách trà nóng và một chuỗi câu hỏi nhẹ nhàng, kiên nhẫn giăng ra từng mắt lưới tâm lí. Skardon thả ra những manh mối mơ hồ nhưng sắc bén thu thập được từ dự án VENONA, gõ từng nhịp vào bức tường im lặng của nhà khoa học.

Đối mặt với viên sĩ quan MI5, Klaus Fuchs không hề hoảng loạn hay tỏ ra dối giảo. Trong suốt nhiều tuần đấu trí, ông vẫn giữ nguyên thái độ mực thước, điềm tĩnh và lịch sự. Điều khiến Fuchs trăn trở đêm ngày trong giai đoạn này không phải là nỗi sợ hãi bản án tù tối tăm hay cái chết đang chờ đợi, mà chính là trách nhiệm đạo đức đối với những đồng nghiệp và bạn bè xung quanh. Tại Harwell, Fuchs được đồng nghiệp yêu mến và tin cậy; nếu ông tiếp tục im lặng hay quanh co, sự nghi ngờ của cơ quan an ninh sẽ như một đám mây độc phủ xuống đầu những nhà khoa học vô tội khác. Để bảo vệ phẩm giá của bạn bè và giải thoát họ khỏi bầu không khí nghi ngờ, Fuchs quyết định tự mình bước ra ánh sáng.

William Skardon
William Skardon, sĩ quan điều tra lão luyện của Cơ quan An ninh Nội địa Anh (MI5)

Vào ngày 24/1/1950, trong một buổi làm việc với Skardon, Klaus Fuchs đã chủ động đưa ra lời khai nhận. Bằng một giọng nói bình thản, gãy gọn như đang trình bày một bài giảng vật lí lí thuyết, ông bắt đầu tái hiện lại toàn bộ hành trình điệp báo của mình suốt 8 năm qua: Từ những cuộc gặp bí mật giữa lòng London thời chiến, những bản tính toán động lực học nổ dồn gửi cho Moscow, cho đến nguyên lí bình giam bức xạ của bom H. Skardon nín thở ghi chép, bàng hoàng trước quy mô khổng lồ của thông tin và sự minh bạch tuyệt đối trong lời khai của người đối diện.

Chính trong cuộc thẩm vấn lịch sử này, Klaus Fuchs đã đưa ra tuyên ngôn tư tưởng nổi tiếng về trạng thái “sự phân chia tư duy có kiểm soát” (controlled schizophrenia). Ông giải thích cho Skardon hiểu cách mà mình đã tự chia tách tâm hồn mình thành hai nửa độc lập: Một nửa là người bạn chân thành, tận tụy và giàu tình thương đối với các đồng nghiệp phương Tây, nơi ông thực sự yêu quý gia đình Peierls, kính trọng Oppenheimer và cống hiến hết mình cho nền khoa học Anh. Nhưng nửa còn lại là người chiến sĩ chống phát xít mang trách nhiệm với lịch sử toàn cầu, nơi ông ý thức được rằng nhiệm vụ tối cao của mình là phải ngăn chặn nguy cơ thảm họa hạt nhân đơn cực bằng cách san sẻ bí mật cho Liên Xô.

Fuchs nhấn mạnh rằng ông không bao giờ coi hành động của mình là sự phản bội nước Anh hay bạn bè. Trong tâm khảm ông, việc trao bí mật hạt nhân cho Liên Xô, quốc gia đã gánh chịu hy sinh khủng thảm nhất để đánh bại phát xít, là hành động mang tính nghĩa vụ đạo đức tối thượng nhằm cứu vớt nhân loại khỏi bẫy độc quyền vũ khí diệt vong. Fuchs khẳng định mình chưa từng nhận bất kỳ khoản tiền thù lao hay lợi ích vật chất nào từ phía Xô Viết, ngoại trừ một khoản tiền nhỏ mang tính tượng trưng mà ông chưa bao giờ đụng đến.

Khi cuộc thẩm vấn khép lại, William Skardon không nhìn Fuchs như một kẻ phản bội hèn hạ, mà là một nhân cách bi kịch mang lí tưởng thuần khiết. Fuchs tuyên bố ông hoàn toàn không hối hận về quyết định chuyển giao bí mật hạt nhân cho Liên Xô, bởi ông biết rằng tiếng nổ RDS-1 trên thảo nguyên Kazakhstan năm 1949 đã thiết lập nên một thế cân bằng sinh tử, một lá chắn răn đe vững chắc giữ cho nòng súng Chiến tranh Lạnh không bao giờ có thể bấm nút khai hỏa. Đằng sau lời khai nhận tự nguyện ấy là phẩm giá thanh thản của một nhà khoa học đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh lịch sử mà lương tri giao phó.

Phiên tòa 90 phút và 14 năm kiêu hãnh trong tù

Sáng ngày 1/3/1950, không khí tại Tòa án Old Bailey lừng danh ở London chìm trong một sự oi nồng và căng thẳng khác thường. Hàng trăm phóng viên từ khắp các hãng thông tấn quốc tế cùng các quan chức ngoại giao, tình báo đã chật kín phòng xử án. Trên bục bị cáo, Klaus Fuchs đứng thẳng, vận bộ phục trang chỉnh tề, gương mặt điềm tĩnh và đôi mắt sâu thẳm sau cặp kính tri thức không hề lộ một nét hoảng sợ hay hối hận. Phiên tòa xét xử vụ án tình báo nguy hiểm nhất thế kỉ diễn ra với một tốc độ thần tốc đến kinh ngạc. Toàn bộ quá trình tranh tụng, đọc cáo trạng và tuyên án kết thúc gọn gàng trong chưa đầy một trận đá bóng.

Sự vội vã ấy của chính quyền Anh không phải là một sự tình cờ. Mới vừa bước ra khỏi Thế chiến II và đang gồng mình đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng, chính phủ Anh hoảng hốt trước nguy cơ làm rạn nứt mối quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ. Quan trọng hơn, họ muốn nhanh chóng khép lại vụ án để tránh việc công khai trước tòa những chi tiết kĩ thuật nhạy cảm, cũng như che giấu trước công luận quy mô tổn thất khủng khiếp của hệ thống an ninh phương Tây. Một cuộc tranh luận pháp lí kéo dài sẽ chỉ làm phơi bày thêm thực tế cay đắng là toàn bộ bí mật hạt nhân tối mật của phương Tây đã được trao trọn vẹn cho Liên Xô từ lâu.

Khi Thẩm phán Tối cao Lord Goddard đọc bản án, không gian phòng xử án im phắc đến mức có thể nghe thấy tiếng kim đồng hồ gõ nhịp. Goddard lên án hành động của Fuchs là sự vi phạm phản bội lòng tin nghiêm trọng nhất, nhưng chính vị thẩm phán này cũng phải thừa nhận rằng bị cáo không hề hành động vì tiền bạc hay tư lợi ích kỉ. Fuchs bị tuyên phạt 14 năm tù giam, mức án tối đa theo luật pháp Anh thời bấy giờ dành cho tội danh tiết lộ bí mật quốc gia cho một nước đồng minh trong thời chiến. Đứng trước bản án khắc nghiệt có thể đập tan toàn bộ sự nghiệp khoa học rực rỡ của một thiên tài ở tuổi 38, Klaus Fuchs chỉ nhẹ nhàng gật đầu. Ông cúi chào tòa án với phẩm giá lịch thiệp vốn có, rồi điềm tĩnh bước xuống những bậc thang dẫn về phía nhà giam, để lại sau lưng những tiếng xầm xì bàng hoàng của báo giới.

Klaus Fuchs 3
Klaus Fuchs không giấu vẻ kiêu hãnh khi nhập trại.

Bên ngoài cánh cửa Old Bailey, tin tức về bản án 14 năm tù giam của Fuchs tạo nên một cơn địa chấn truyền thông toàn cầu. Nhưng đối với nhà khoa học trầm lặng ấy, những bức tường đá kiên cố của Nhà giam Wakefield không thể giam cầm được một tâm hồn tự do và thanh thản.

Tại Wakefield, Klaus Fuchs không hề tỏ ra sụp đổ hay chìm đắm trong cay đắng, oán thán. Ông đón nhận cuộc sống sau song sắt bằng sự điềm đạm và kỉ luật thép của một người đã quen với việc làm chủ nội tâm. Giống như những ngày tháng bị giam cầm trong trại tị nạn mười năm trước, Fuchs lập tức biến quãng thời gian thụ án thành hành trình cống hiến thầm lặng. Ông sống mẫu mực, khiêm nhường, tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy định của nhà giam và nhận nhiệm vụ quản lí thư viện tù nhân.

Fuchs chủ động biến thư viện buồn tẻ thành một không gian tri thức. Ông kiên nhẫn tổ chức các lớp học toán, vật lí và ngoại ngữ cho các tù nhân khác, giảng giải những lí thuyết phức tạp bằng thứ ngôn ngữ giản dị, giàu tình thương. Những phạm nhân thụ án cùng Fuchs, vốn là những con người lầm lỡ hay bị dồn vào bước đường cùng, tìm thấy ở vị tiến sĩ vật lí trầm lặng này một sự lắng nghe chân thành, một người thầy không bao giờ phán xét hay coi thường họ. Ngay cả ban giám thị và các sĩ quan quản giáo của Nhà giam Wakefield cũng dành cho Fuchs một sự kính trọng đặc biệt. Họ nhìn thấy ở ông chân dung của một trí thức kiệt xuất mang phong thái quý tộc, một người đàn ông dũng cảm chịu trách nhiệm về hành động của mình mà không một lời kêu van xin xỏ sự rủ lòng thương hại.

Mười bốn năm tù giam mà Tòa án Old Bailey tuyên phạt không hề là một thất bại hay sự trừng phạt làm Fuchs khuất phục. Trong tâm khảm nhà khoa học nhà Quaker ấy, quãng thời gian sau song sắt chỉ là cái giá tĩnh lặng mà ông tự nguyện gánh chịu để đổi lấy sự tồn vong cho nhân loại. Mỗi đêm, khi nhìn qua ô cửa sổ nhà giam nhỏ hẹp về phía bầu trời đêm thăm thẳm, Fuchs biết rằng ở cách đó hàng ngàn cây số, trên những thảo nguyên lạnh giá của Kazakhstan, chiếc lá chắn răn đe hạt nhân của Liên Xô đã được dựng lên vững chắc.

Thế cân bằng sinh tử mà ông đánh đổi cả cuộc đời để góp phần kiến tạo đã chính thức vận hành, ngăn chặn những cái đầu nóng ở Washington hay London phát động một cuộc tấn công hủy diệt phủ đầu. Sự thanh thản nội tâm ấy chính là nguồn sức mạnh vô hình giúp Klaus Fuchs đi qua 14 năm tù giam với tư thế ngẩng cao đầu, phẩm giá kiêu hãnh của một nhà khoa học đã dùng cả cuộc đời mình để giữ cho nền hòa bình của thế giới ở trạng thái cân bằng.

Bùi Tú