Cuộc đời nhà khoa học

Giáo sư Trần Huy Liệu: Khúc tráng ca của một trí thức dấn thân

Quốc Phong • 01/11/2026 07:00

Con đường chính trị của ông cũng trải qua muôn vàn khúc trắc, thử nghiệm. Từ những bước chân bỡ ngỡ trong Đảng Thanh niên, rồi tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng, ông đã trải qua một quá trình trăn trở, tự soi rọi để tìm ra con đường cứu nước thực chất.

tran-huy-lieu-2(1).png
z8431285132990_e2d25ac25ef47fc7cc2b8018e2815516.jpg
Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 – 5/11/1996).

Cuộc đời của Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu là một hành trình hiếm có, nơi sự nghiệp chính trị, báo chí và nghiên cứu khoa học hòa quyện làm một. Ông không chỉ đứng ở tuyến đầu của phong trào cách mạng, trực tiếp gánh vác những trọng trách quốc gia trong thời khắc bùng nổ của Cách mạng Tháng Tám 1945, mà còn là người đặt những viên gạch hồng đầu tiên cho nền móng sử học cách mạng Việt Nam.

Từ những trang báo đả kích chế độ thực dân ở Nam Kỳ cho đến chiếc ấn vàng Hoàng đế chi bảo được tiếp nhận tại Ngọ Môn, hay những năm tháng miệt mài trong phòng nghiên cứu để dựng lại bức tranh quá khứ của dân tộc, Trần Huy Liệu luôn giữ trọn vẹn khí chất của một trí thức dấn thân.

Kỳ 1: Từ người làm nên lịch sử đến người viết sử

Hội thảo khoa học vừa diễn ra tại xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình, nhân kỉ niệm 125 năm ngày sinh Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu, một lần nữa đưa giới nghiên cứu và công chúng trở lại với biên niên sử của một cuộc đời kì lạ. Trong biên niên sử ấy, lịch sử hiếm khi trao cho một cá nhân nhiều ngã rẽ và trọng trách đến thế: vừa là tác giả của những văn kiện chuyển giao thời đại, vừa là người cầm ấn kiếm kết thúc vĩnh viễn một triều đại phong kiến, để rồi cuối cùng, hóa thân thành người đặt viên đá nền móng vững chắc cho ngôi đền sử học cách mạng Việt Nam.

đón bằng
Hội thảo khoa học "Trần Huy Liệu - Nhà cách mạng, nhà văn hoá, người đặt nền móng cho sử học Việt Nam hiện đại" và lễ đón nhận Bằng Di tích Quốc gia "Nhà lưu niệm đồng chí Trần Huy Liệu" được tổ chức ngày 31/10 tại Vụ Bản, Ninh Bình nhân kỉ niệm 125 năm ngày sinh của ông.

Khởi đầu từ một nhân duyên trắc trở với thời cuộc

Sinh ngày 5/11/1901 tại làng Vân Cát, huyện Vụ Bản (Nam Định trước đây, nay thuộc tỉnh Ninh Bình), Trần Huy Liệu mang trong mình dòng máu và truyền thống khoa bảng của một gia đình nhà nho nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Thế nhưng, con đường học vấn quy chuẩn của thời phong kiến lại không mỉm cười với ông. Những biến cố dồn dập của thời buổi giao thời đã bẻ gãy nhịp điệu lều chõng quen thuộc: lần ông thi đỗ thì trường thi Hà Nam buộc phải hủy toàn bộ kết quả do nghi vấn lộ đề; kỳ thi lại sau đó không thành công; và đến năm tiếp theo, khi ốm đau lỡ hẹn, cũng là lúc triều đình chính thức đóng cửa kì thi Hán học cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam.

Sự khép lại của con đường khoa bảng truyền thống hóa ra lại là cánh cửa mở ra một không gian lớn lao hơn, dấn thân hơn. Năm 1923, từ bỏ lũy tre làng chiêm trũng, Trần Huy Liệu mang theo hoài bão và sự nhạy bén của tuổi trẻ bước vào Sài Gòn - trung tâm sôi động nhất của phong trào báo chí và tư tưởng tự do lúc bấy giờ. Tại đây, ông không chọn cách đứng ngoài quan sát thời cuộc. Ngòi bút của ông nhanh chóng tìm thấy sức mạnh cộng hưởng qua các trang báo lớn như Đông Pháp thời báo, Pháp Việt nhất gia, hay sau này là báo Tin Tức. Những bài viết sắc sảo, đanh thép của ông không chỉ vạch trần bản chất bóc lột của thực dân mà còn đánh thức lòng tự tôn, khát vọng độc lập trong lòng công chúng đô thị.

giáo sư trần huy liệu
Ngòi bút của ông nhanh chóng tìm thấy sức mạnh cộng hưởng qua các trang báo lớn như Đông Pháp thời báo, Pháp Việt nhất gia, hay sau này là báo Tin Tức. Ảnh tư liệu

Không dừng lại ở việc cầm bút phê phán, Trần Huy Liệu hành động bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Ông trực tiếp tham gia các phong trào đòi trả tự do cho nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, hưởng ứng phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh, và cùng các đồng chí hướng thành lập Cường học thư xã vào năm 1927. Cơ sở xuất bản này chuyên ấn hành những cuốn sách giới thiệu các danh nhân lịch sử và truyền thống chống ngoại xâm, trở thành ngọn đuốc thắp sáng tinh thần dân tộc trong thế hệ thanh niên trí thức đương thời.

Con đường chính trị của ông cũng trải qua muôn vàn khúc trắc, thử nghiệm. Từ những bước chân bỡ ngỡ trong Đảng Thanh niên, rồi tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng, ông đã trải qua một quá trình trăn trở, tự soi rọi để tìm ra con đường cứu nước thực chất. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi chiếu vào ông mạnh mẽ nhất trong những năm tháng bị thực dân Pháp bắt giam, đày ải ở ngục tối Côn Đảo, Sơn La, rồi trại giam Bá Vân và Nghĩa Lộ. Những đòn roi tra tấn và chế độ giam cầm khắc nghiệt không thể khuất phục được ý chí, ngược lại, nó biến nhà tù đế quốc thành một "trường học lớn", nơi ông cùng các chiến sĩ cộng sản tôi luyện bản lĩnh, nghiên cứu lý luận và chuyển hóa sâu sắc về tư tưởng chính trị. Khi vượt ngục thành công vào tháng 3/1945 để trở lại hoạt động, Trần Huy Liệu đã mang trong mình một tầm vóc và bản lĩnh hoàn toàn khác, sẵn sàng bước vào tâm bão của lịch sử dân tộc.

Khi nhà báo chấp bút cho vận mệnh quốc gia

Có một sự chuyển dịch ngoạn mục và hiếm có trong cuộc đời Trần Huy Liệu: từ một người từng bị kìm kẹp sau song sắt ngục tù bỗng chốc bước ra vị trí trung tâm của quyền lực cách mạng trong Mùa thu Tháng Tám lịch sử năm 1945.

quan_lenh_so_1_cua_uy_ban_khoi_nghia_toan_quoc-_ngay_13-08-1945.jpg
Bản Quân lệnh số 1 do Trần Huy Liệu chấp bút soạn thảo. Ảnh tư liệu

Tháng 8/1945, tại Quốc dân Đại hội Tân Trào, tiếng gọi của lịch sử chính thức gọi tên ông khi đại hội bầu ông giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam - cơ quan lâm thời gánh vác sứ mệnh như một Chính phủ cách mạng lúc bấy giờ. Trọng trách trọng đại đầu tiên lập tức được trao gửi: ông chính là người trực tiếp chấp bút bản Quân lệnh số 1, văn kiện thiêng liêng phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc. Từ một nhà báo quen dùng ngòi bút bình luận và khơi gợi lòng yêu nước, giờ đây, từng câu chữ, từng mệnh lệnh do chính tay ông viết xuống lại mang sức mạnh hiệu triệu hàng triệu đồng bào đứng lên đập tan xiềng xích, định đoạt số phận của cả một dân tộc.

Đỉnh cao của chuỗi sự kiện mang tính bước ngoặt ấy diễn ra vào chiều ngày 30/8/1945 tại Ngọ Môn, Kinh thành Huế. Trong tư cách là Trưởng đoàn đại diện Chính phủ lâm thời (cùng với các ông Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận), Trần Huy Liệu đứng trước hàng vạn quần chúng nhân dân xứ Huế để thực hiện nghi thức tiếp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn. Khoảnh khắc ông tiếp nhận chiếc ấn vàng Hoàng đế chi bảo và thanh kiếm nạm ngọc tượng trưng cho quyền lực tối cao của chế độ phong kiến không chỉ là một thủ tục bàn giao hành chính thông thường. Đó là dấu chấm hết chính thức cho 143 năm vương triều nhà Nguyễn và hàng nghìn năm chế độ quân chủ chuyên chế tại Việt Nam, mở ra kỉ nguyên mới của thể chế Dân chủ Cộng hòa.

bảo đại trao ấn kiếm
Cựu hoàng Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời tại lễ thoái vị ngày 30/8/1945 (Ảnh: Tư liệu).

Trần Huy Liệu hoàn toàn không phải là một người đứng ngoài quan sát hay chép sử thụ động. Ông chính là nhân vật, là tác giả trực tiếp nhào nặn và tạo nên những giây phút thiêng liêng nhất của thời đại. Trải nghiệm sống động từ chính tâm bão quyền lực ấy đã tạo cho ông một nhãn quan chính trị sắc bén. Tuy nhiên, điều đó cũng đặt ra một thách thức không nhỏ cho chặng đường sau này: khi một người từng trực tiếp tham gia làm nên lịch sử lại bước chân sang lĩnh vực nghiên cứu và viết sử, họ phải vượt qua cái tôi cá nhân như thế nào để giữ được sự tỉnh táo, khách quan và trung thực tuyệt đối trước những biến cố mà chính mình từng là người trong cuộc? Câu trả lời nằm ở bản lĩnh và nhân cách khoa học vô cùng trong sáng của ông trong suốt những năm tháng về sau.

Nhà kiến tạo những thiết chế sử học đầu tiên

Sau năm 1945, với uy tín chính trị to lớn và những cống hiến xuất sắc, tình yêu sâu nặng dành cho quá khứ dân tộc - thứ tình yêu đã nảy mầm từ những ngày đầu viết báo lịch sử - một lần nữa gọi tên ông. Ông quyết định dành phần lớn tâm huyết và trí tuệ của nửa sau cuộc đời cho khoa học lịch sử.

Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập nhưng ngay lập tức phải bước vào cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp, việc nghiên cứu, biên soạn và viết lại lịch sử dân tộc từ một nhận thức khoa học mới trở thành một nhiệm vụ chiến lược cấp bách. Trần Huy Liệu nhận thức rất rõ rằng lịch sử không chỉ để ghi nhớ quá khứ, mà sâu xa hơn, lịch sử là nguồn sức mạnh tinh thần cốt lõi giúp một dân tộc hiểu rõ cội nguồn, nhận diện sức mạnh vượt qua gian khó và củng cố niềm tin vững chắc vào tương lai.

thành viên chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà

Từ những trăn trở ấy, vào ngày 2/12/1953, giữa cái lạnh của chiến khu Việt Bắc khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt nhất, Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lí - Văn học (sau này quen thuộc với tên gọi Ban Văn - Sử - Địa) chính thức được thành lập, và Trần Huy Liệu được Đảng, Nhà nước tín nhiệm giao trọng trách làm Trưởng ban. Đây chính là cột mốc khởi nguyên, đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành và phát triển của hệ thống các ngành khoa học xã hội chuyên nghiệp tại nước Việt Nam mới.

Chỉ ít lâu sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, dưới sự chèo lái và tầm nhìn chiến lược của ông, các thiết chế nghiên cứu khoa học lớn lần lượt ra đời. Ngày 6/2/1960, Viện Sử học được chính thức thành lập, và Trần Huy Liệu vinh dự trở thành Viện trưởng đầu tiên. Ông đồng thời đảm nhiệm cương vị Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Không dừng lại ở phạm vi quốc gia, uy tín khoa học của ông còn vươn tầm quốc tế khi vào năm 1966, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam ra đời và ông được bầu làm Chủ tịch đầu tiên, đồng thời được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Dân chủ Đức.

Tầm vóc của Trần Huy Liệu đối với ngành sử học nước nhà không chỉ nằm ở số lượng các bài viết hay công trình cá nhân, mà trước hết nằm ở tư duy của một nhà tổ chức thiên tài. Ông biết cách quy tụ các bậc trí thức lớn, các học giả uyên bác lúc bấy giờ về chung một mái nhà khoa học, tận tụy đào tạo, dìu dắt lớp cán bộ nghiên cứu trẻ kế cận. Đặc biệt, ông là người đề xướng và kiên trì thực hiện phương pháp luận gắn liền lý luận với thực tiễn: chủ trương đưa cán bộ nghiên cứu rời khỏi tháp ngà phòng thí nghiệm giấy để về tận các địa phương, lặn lội tìm kiếm tư liệu gốc, gặp gỡ các nhân chứng sống và nghiên cứu lịch sử từ chiều sâu đời sống của nhân dân. Đối với ông, lịch sử không chỉ được viết nên từ những quyết định của các vương hầu tướng lĩnh, mà được bồi đắp từ mồ hôi, nước mắt và xương máu của triệu triệu con người lao động vô danh.

Di sản tinh thần và nhân cách của một trí thức lớn

Song song với gánh nặng quản lý, tổ chức và lãnh đạo hệ thống khoa học xã hội quốc gia, Trần Huy Liệu vẫn miệt mài trực tiếp cầm bút nghiên cứu, biên soạn nhiều công trình sử học có giá trị nền tảng. Tiêu biểu nhất trong số đó là bộ sách Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, một trong những công trình kinh điển của nền sử học cách mạng giai đoạn đầu, kết tinh từ nguồn tư liệu phong phú, công phu và tư duy tổng kết sắc sảo. Bên cạnh đó, ông còn để lại hàng loạt tác phẩm có giá trị cao như Sơ thảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam, cùng vô số các chuyên luận sâu sắc về Nguyễn Trãi, về phong trào Cần Vương, Văn Thân và cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại.

Thường trực quốc hội

Theo các thống kê tư liệu, di sản khoa học mà ông để lại cho hậu thế gồm hàng trăm công trình, bài nghiên cứu và các tập tư liệu quý giá. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc ấy, ông đã được Nhà nước trao tặng học hàm Giáo sư, và đến đợt tổng kết đầu tiên năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh danh giá cho các công trình nghiên cứu lịch sử xuất sắc.

Thế nhưng, điều khiến các thế hệ học trò và người đời sau mãi mãi kính trọng, nhớ ơn ở Giáo sư Trần Huy Liệu không chỉ nằm ở số lượng chức vụ từng đảm nhiệm hay đồ sộ các trang bản thảo in thành sách. Giá trị lớn nhất vượt lên trên tất cả chính là nhân cách thanh cao, sự trung thực tuyệt đối và tấm lòng đau đáu vì vận mệnh quốc gia của một trí thức lớn. Khi bước vào không gian nghiên cứu khoa học, ông tự đặt ra cho mình những kỷ luật nghiêm ngặt: tôn trọng tư liệu gốc đến cùng, khách quan trước mọi sự thật lịch sử và không bao giờ ngừng tự học hỏi, trau dồi tri thức.

Cuộc đời ông là một minh chứng hùng hồn cho thấy để trở thành một nhà khoa học lớn không nhất thiết phải bắt đầu từ những trường lớp viện hàn lâm hào nhoáng từ thủa ban đầu, mà được tôi luyện từ ngọn lửa ý chí kiên cường, khả năng tự học bền bỉ, tư duy độc lập và niềm đam mê khám phá chân lý không mệt mỏi. Cho đến tận những năm tháng cuối đời, khi sức khỏe đã suy giảm, ông vẫn miệt mài làm việc, hướng dẫn thế hệ trẻ và lo lắng cho việc xây dựng cơ sở lưu trữ tư liệu quốc gia.

kỉ niệm 125 năm ngày sinh trần huy liệu
Lễ kỉ niệm 125 năm ngày sinh, hội thảo hoa học và đón nhận Bằng Di tích Quốc gia "Nhà lưu niệm đồng chí Trần Huy Liệu đã diễn ra ngày 31/10 tại Vân Cát, Vụ Bản Ninh Bình.

Ngày 28/7/1969, Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu vĩnh biệt thế gian tại Hà Nội, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho giới trí thức và nhân dân cả nước. Trước lúc đi xa, trong bản di chúc giản dị mà vô cùng xúc động, ông đã để lại lời tâm sự chạm đến tâm can của bất kỳ ai cầm bút: “Tôi chết đi không có tiền bạc gì cả, chỉ có bản thảo ghi chép và sách vở cống hiến rất quý cho việc nghiên cứu lịch sử”. Câu nói ấy không chỉ tóm gọn toàn bộ gia tài vật chất khiêm nhường của một đời người, mà còn khẳng định một chân lý cao đẹp về tài sản trí tuệ vô giá mà ông dâng hiến trọn vẹn cho đất nước.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày ông khuất núi, nền khoa học lịch sử Việt Nam đã có những bước tiến dài với đội ngũ hàng ngàn nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và hệ thống thiết chế hiện đại. Nhưng trong dòng chảy ấy, những bài học từ cuộc đời, phương pháp luận và nhân cách của Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu vẫn nguyên vẹn giá trị thời sự. Kỷ niệm 125 năm ngày sinh của ông chính là dịp để hậu thế cúi đầu tri ân một cuộc đời hiếm có - nơi người làm nên lịch sử và người viết sử hòa làm một, tạc vào không gian dân tộc một khúc tráng ca trường tồn về lòng yêu nước, tinh thần dấn thân và sự phụng sự khoa học đến tận cùng hơi thở.

Còn tiếp

Quốc Phong