Cuộc đời nhà khoa học

GS.VS Trần Huy Liệu (Kì 2): Người nhận ấn kiếm nhà Nguyễn và khoảnh khắc chuyển giao lịch sử

Nam Phong •

Từ người chấp bút Quân lệnh số 1 đến lầu Ngọ Môn nhận ấn kiếm, Trần Huy Liệu đã sống trọn vẹn ở tâm bão Cách mạng Tháng Tám.

ảnh bìa trong bài

Trần Huy Liệu không chỉ là một nhà sử học ghi chép quá khứ, cuộc đời ông chính là một chuỗi những sự kiện đóng vai trò bản lề của thời đại. Từ người trực tiếp chấp bút bản Quân lệnh số 1 phát lệnh Tổng khởi nghĩa, cho đến vị Trưởng đoàn đại diện Chính phủ bước lên lầu Ngọ Môn nhận ấn kiếm thoái vị của vua Bảo Đại, ông đã sống trọn vẹn trong tâm bão của Mùa thu Tháng Tám lịch sử.

Cuộc vượt ngục định mệnh và bước ngoặt Tổng khởi nghĩa

Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 – 5/11/2026).
Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 – 5/11/2026).

Tháng 3 năm 1945, giữa lúc cao trào kháng Nhật cứu nước đang sục sôi khắp ba miền, nhà tù Nghĩa Lộ (Yên Bái) bỗng chứng kiến một cuộc vượt ngục táo bạo. Thoát khỏi vòng vây kiểm soát ngặt nghèo của thực dân và phát xít, Trần Huy Liệu cùng các đồng chí của mình lập tức hòa vào dòng chảy cách mạng đang tiến về chiến khu. Đối với một người từng trải qua những năm tháng đày ải ở Côn Đảo, Sơn La và Bá Vân, sự trở lại này không chỉ đơn thuần là sự tái hợp của một chiến sĩ cộng sản với tổ chức, mà là sự trở về của một ngòi bút đã được tôi luyện qua lửa đỏ ngục thất, sẵn sàng cho những sứ mệnh trọng đại nhất của lịch sử dân tộc.

Giữa thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, khi vận mệnh của cả dân tộc quyết định trong từng giờ, từng phút, một trọng trách lịch sử hệ trọng, 23 giờ ngày 13/8/1945, Trần Huy Liệu đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao phó cho người cựu tù chính trị kiêm nhà báo sắc sảo ấy: trực tiếp chấp bút bản Quân lệnh số 1. Ngày 16/8/1945, tại Quốc dân Đại hội Tân Trào - hội nghị được ví như Diên Hồng của thời đại mới, tiếng gọi của lịch sử đã đặt Trần Huy Liệu vào một vị trí vô cùng đặc biệt. Đại hội đã tín nhiệm bầu ông giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, cơ quan lãnh đạo lâm thời gánh vác sứ mệnh tối cao của một chính phủ cách mạng lâm thời lúc bấy giờ.

Bản Quân lệnh số 1 do Trần Huy Liệu chấp bút soạn thảo. Ảnh tư liệu
Bản Quân lệnh số 1 do Trần Huy Liệu chấp bút soạn thảo. Ảnh tư liệu

Trong hồi ký của mình, Trần Huy Liệu viết: “Mặc dù ngồi dưới ngọn đèn tù mù, những con tầm xuân, con thiêu thân bay quanh tới tấp, muỗi và rĩn thi nhau đốt làm tôi nhiều lúc nẩy người lên hay đập chân bành bạch, tôi vẫn say sưa nghĩ đến cảnh nước mất, dân nhục từ hơn tám mươi năm, nghĩ đến sự nghiệp cách mạng của mấy thế kỷ qua; những cuộc khởi nghĩa của Văn thân, của Việt Nam Quốc dân Đảng cho đến ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Mình được sung sướng làm cái việc nửa đêm truyền hịch hẹn ngày xuất quân… Bản Quân lệnh số 1 lúc ấy tôi thảo một mạch, đọc đi đọc lại vẫn không sửa chữa một chữ nào…”.

tổng khởi nghĩa
Nhân dân với tầm vông vạt nhọn kéo vào nội thành tham gia Tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn, ngày 25/8/1945 (ảnh trái) và không khí Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại Hà Nội. Ảnh tư liệu

Việc chấp bút văn kiện này đặt tên tuổi của Trần Huy Liệu vào hàng ngũ những người trực tiếp khai sinh ra vận mệnh mới của nước nhà. Từ một nhà báo đứng trước trang giấy trắng, ông đã viết nên hiệu lệnh mở màn cho một cuộc cách mạng vĩ đại làm rung chuyển cả bán đảo Đông Dương, biến ý chí độc lập của cả một dân tộc thành những hành động bão táp trong những ngày tháng Tám lịch sử.

Gánh vác triều chính: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong Chính phủ Lâm thời

Thắng lợi vang dội của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị gần một thế kỉ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Chính phủ lâm thời non trẻ do Người đứng đầu, Trần Huy Liệu được tín nhiệm giao giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền (nay là Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch).

chính phủ lâm thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Việc đảm nhận cương vị Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong những ngày tháng "trứng nước" của chính quyền cách mạng là một thử thách vô cùng khắc nghiệt đối với bất kì nhà quản lí nào. Đất nước vừa giành được độc lập phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách ngàn cân treo sợi tóc: nạn đói khủng khiếp do chính sách vơ vét của phát xít Nhật để lại chưa kịp giải quyết, nạn dốt bao trùm với hơn 90% dân số mù chữ, trong khi thù trong giặc ngoài đang lăm le bóp chết non nhà nước cách mạng. Ở mặt trận tư tưởng và thông tin, thực dân đế quốc và các thế lực phản động liên tục tung ra những luận điệu xuyên tạc, hòng hoang mang lòng người và phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Với bản lĩnh của một nhà báo từng lăn lộn qua nhiều tòa soạn lớn và kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phong phú, Bộ trưởng Trần Huy Liệu đã nhanh chóng bắt tay vào việc thiết lập và củng cố mặt trận tư tưởng của chính quyền mới. Ông hiểu rằng, trong giờ phút lịch sử này, vũ khí sắc bén nhất của bộ máy tuyên truyền không phải là những khẩu hiệu sáo rỗng, mà là sự thật cách mạng, là lòng tin tuyệt đối của nhân dân vào Chính phủ và lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Ông trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng hệ thống thông tin đại chúng từ trung ương đến địa phương, biến báo chí, phát thanh và các hình thức văn hóa nghệ thuật thành những công cụ đắc lực để cổ vũ tinh thần "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm". Dưới sự điều hành của ông, ngành tuyên truyền trong những tháng ngày đầu tiên ấy đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình: hiệu triệu, đoàn kết và truyền ngọn lửa nhiệt huyết cách mạng vào từng ngõ ngách của đời sống xã hội, góp phần củng cố vững chắc chính quyền nhân dân non trẻ trước muôn vàn sóng gió.

Chiều thu lịch sử tại Ngọ Môn: Giây phút vương triều sụp đổ

Nếu như việc soạn thảo Quân lệnh số 1 và điều hành mặt trận tư tưởng trong Chính phủ lâm thời là những dấu ấn chính trị đậm nét, thì khoảnh khắc chiều ngày 30/8/1945 tại Ngọ Môn (Huế) mới chính là đỉnh cao chói lọi, là sự kiện định hình vị thế của Trần Huy Liệu trong biên niên sử cận đại Việt Nam.

sân vận động Huế
Người dân Thừa Thiên Huế và các đội Cứu quốc quân tiến về sân vận động Huế, tháng 8/1945. Ảnh: Tư liệu

Đầu tháng 8 năm 1945, trước sức mạnh như vũ bão của phong trào cách mạng, chính quyền toàn quyền đế quốc và triều đình phong kiến nhà Nguyễn rơi vào thế hoảng loạn tuyệt đối. Trước áp lực từ các tầng lớp nhân dân và vận mệnh của đất nước, vua Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn - đã phải tuyên bố thoái vị. Để tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định cử một phái đoàn đặc biệt của Chính phủ lâm thời vào Huế. Đoàn đại biểu ấy gồm ba đồng chí: Trần Huy Liệu làm Trưởng đoàn, cùng hai thành viên là nhà cách mạng Nguyễn Lương Bằng và nhà thơ Cù Huy Cận.

Hành trình từ Hà Nội vào Huế trong những ngày cuối tháng Tám năm ấy mang ý nghĩa của một sứ mệnh đặc biệt. Khi phái đoàn đặt chân đến Cố đô Huế, bầu không khí sục sôi của Cách mạng Tháng Tám đã bao trùm toàn bộ kinh thành. Hàng vạn đồng bào từ các ngả đường đổ về Quảng trường Ngọ Môn trong tiếng cờ hoa phấp phới và những tiếng hô vang dội ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ lâm thời.

Chiều ngày 30/8/1945, tại lầu Ngọ Môn uy nghiêm - nơi từng chứng kiến biết bao thăng trầm của hoàng triều nhà Nguyễn trong suốt 143 năm trị vì - một nghi thức chuyển giao quyền lực vĩ đại nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam đã diễn ra trước sự chứng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân. Trong bộ giản phục trang nghiêm nhưng đầy khí chất của người chiến sĩ cách mạng, Trần Huy Liệu bước ra trước hàng vạn đồng bào để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng: đại diện cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận ấn kiếm thoái vị từ vua Bảo Đại.

Cựu hoàng Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời tại lễ thoái vị ngày 30/8/1945 (Ảnh: Tư liệu).
Vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho ông Trần Huy Liệu, đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời tại lễ thoái vị ngày 30/8/1945. Câu nói: "Trẫm nguyện làm dân của một nước độc lập, không muốn làm vua của một nước nô lệ” của vua Bảo Đại khi ấy, đánh dấu sự cáo chung của triều Nguyễn sau 143 năm trị vì và khép lại vĩnh viễn chế độ phong kiến trong lịch sử Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Bước lên bệ đài lịch sử, vị cựu tù Côn Đảo điềm tĩnh đón nhận từ tay cựu hoàng chiếc ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" nặng ngập tay và thanh kiếm nạm ngọc - những vật biểu trưng cho quyền lực tối cao của thiên tử suốt bao đời. Khoảnh khắc chiếc ấn vàng và thanh kiếm được trao vào tay Trần Huy Liệu cũng là giây phút tiếng súng chào mừng vang lên, đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn, vĩnh viễn của chế độ quân chủ chuyên chế đã ngự trị trên đất nước Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử.

Sau khi tiếp nhận ấn kiếm, Trần Huy Liệu đã có bài phát biểu đanh thép, tuyên bố trước quốc dân đồng bào về ý nghĩa to lớn của thời khắc lịch sử này, đồng thời khẳng định từ nay quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nước Việt Nam đã thực sự độc lập, tự do. Hình ảnh vị Bộ trưởng trẻ tuổi, kiên nghị giơ cao thanh kiếm và chiếc ấn vàng giữa biển người cờ hoa tại Ngọ Môn đã trở thành một biểu tượng bất hủ của Mùa thu Tháng Tám - biểu tượng của sự chuyển giao quyền lực từ tay phong kiến lỗi thời sang tay nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước.

Từ tâm bão quyền lịch sử đến thử thách khách quan của người viết sử

Trần Huy Liệu hoàn toàn không phải là một nhà quan sát đứng bên lề để chép lại các sự kiện một cách hững hờ hay thụ động. Cuộc đời ông gắn liền với tư cách của một "nhân vật trung tâm", một người trực tiếp nhào nặn, dấn thân và tạo ra những bước ngoặt vĩ đại nhất của thời đại. Ông đứng ở tâm bão của quyền lực cách mạng, hít thở bầu không khí ngột ngạt nhưng sục sôi khí thế của những ngày giành chính quyền, tự tay viết nên những văn kiện thay đổi số phận quốc gia và trực tiếp cầm lấy ấn kiếm kết thúc vĩnh viễn ngai vàng phong kiến.

Chính những trải nghiệm vô giá và sống động tột cùng ấy đã tạo cho Trần Huy Liệu một nhãn quan chính trị cực kì sâu sắc, một sự thấu cảm mãnh liệt đối với sức mạnh của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Tuy nhiên, chính vị thế "người trong cuộc" ấy lại đặt ra một bài toán và một thử thách vô cùng khắc nghiệt đối với cuộc đời ông ở chặng đường tiếp theo. Khi một nhân vật từng trực tiếp tham gia làm nên lịch sử, từng cầm bút viết ra những mệnh lệnh quyết định sinh tử, lại chuyển sang lĩnh vực nghiên cứu khoa học để trở thành một người viết sử, họ phải đối mặt với một bức tường vô hình: làm thế nào để vượt qua cái tôi cá nhân, giữ được sự tỉnh táo, khách quan và trung thực tuyệt đối trước những sự kiện mà chính mình từng là một phần máu thịt?

Đây là một thử thách mà không phải nhà hoạt động chính trị nào khi chuyển hướng sang nghiên cứu khoa học cũng có thể vượt qua. Thông thường, những người từng nắm giữ quyền lực cao cấp hoặc trực tiếp tham gia các biến cố lớn rất dễ rơi vào trạng thái chủ quan, áp đặt lăng kính cá nhân hoặc tô hồng vai trò của chính mình trong các công trình biên soạn lịch sử. Thế nhưng, ở Trần Huy Liệu, lịch sử đã chứng minh một điều hoàn toàn ngược lại.

Chính bản lĩnh của một người cộng sản kiên trung, sự rèn luyện khắt khe trong ngục thất đế quốc và đạo đức trong sáng của một trí thức dấn thân đã giúp ông tự đặt ra cho mình một nguyên tắc tối thượng: khoa học lịch sử phải tôn trọng sự thật khách quan đến cùng. Khi bước chân vào phòng nghiên cứu, ông biết cách lùi lại phía sau, gác lại những vinh quang cá nhân của một cựu Bộ trưởng, một người từng nhận ấn kiếm ở Ngọ Môn, để đứng ở lập trường của một nhà khoa học chân chính. Ông coi những trải nghiệm cá nhân của mình chỉ là một phần tư liệu sống phong phú, nhưng việc lý giải lịch sử phải dựa trên nền tảng tư liệu gốc, trên tinh thần khoa học nghiêm cẩn và trên hết là phải đặt quần chúng nhân dân - những con người vô danh làm nên lịch sử - vào vị trí trung tâm xứng đáng của họ.

Chính sự chuyển dịch đầy bản lĩnh từ "người làm nên lịch sử" sang "người viết sử" một cách khách quan, khoa học ấy đã tạo nên một tầm vóc vĩ đại, độc nhất vô nhị ở cuộc đời Trần Huy Liệu. Từ những trang bản thảo Quân lệnh số 1 rực lửa khí thế cách mạng cho đến những công trình nghiên cứu sử học uyên bác được định hình ở nửa sau cuộc đời, ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh kép mà thời cuộc giao phó: vừa là người trực tiếp dâng hiến máu xương và trí tuệ để kiến thiết nên những trang sử vàng chói lọi của dân tộc, vừa là người đầu tiên đặt những viên gạch hồng vững chắc nhất để xây dựng nên ngôi đền khoa học lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại.

Nam Phong