Kinh tế

Kinh tế bạc: Dùng dịch vụ chuyên nghiệp không đồng nghĩa với bỏ mặc cha mẹ

Nguyễn Tuyết • 03/11/2026 14:16

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, kéo theo nhu cầu lớn về chăm sóc sức khỏe, nhà ở và dịch vụ dành cho người cao tuổi. Theo doanh nhân Calvin P. Tran, phát triển kinh tế bạc không chỉ cần chính sách đồng bộ, mô hình kinh doanh phù hợp mà còn phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo để nâng cao chất lượng chăm sóc.

Kinh tế bạc đang mở ra một thị trường mới, đồng thời đặt ra yêu cầu thay đổi cách xã hội chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi. Từ dịch vụ chăm sóc tại nhà, trung tâm ban ngày đến các khu nhà ở cộng đồng và cơ sở chăm sóc chuyên sâu, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái đa dạng, phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, ông Calvin P. Tran, CEO UIMEX (United Import Export), Chủ tịch Phòng Thương mại Người Việt tại Hoa Kỳ, cho rằng công nghệ và trí tuệ nhân tạo sẽ là công cụ quan trọng giúp ngành chăm sóc người cao tuổi vận hành hiệu quả hơn, nhưng không thể thay thế vai trò của con người.

Ông Calvin P. Tran - Chủ tịch Phòng Thương mại Người Việt tại Hoa Kỳ (Vietnamese Chamber of Commerce in the US). Ảnhh: NVCC
Ông Calvin P. Tran - Chủ tịch Phòng Thương mại Người Việt tại Hoa Kỳ (Vietnamese Chamber of Commerce in the US). Ảnhh: NVCC

Phát triển hệ sinh thái chăm sóc, mở rộng cơ hội tiếp cận

Phóng viên: Việt Nam đang già hóa dân số nhanh, trong khi nhiều gia đình vẫn phải tự chăm sóc cha mẹ, ông bà tại nhà. Theo ông, kinh tế bạc có thể giải quyết những nhu cầu thiết thực nào của người cao tuổi và giảm áp lực chăm sóc cho các gia đình Việt Nam?

Calvin P. Tran: Theo Bộ Y tế, năm 2026 Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm khoảng 16% dân số, và dự báo sẽ bước vào giai đoạn dân số già vào giữa thập niên 2030. Với tốc độ đó, chăm sóc người cao tuổi không còn là việc riêng của từng gia đình mà là vấn đề của cả xã hội.

Theo tôi, cần nhìn kinh tế bạc rộng hơn khái niệm viện dưỡng lão. Đây là một hệ sinh thái kinh tế phục vụ nhu cầu sống của người cao tuổi: nhà ở, chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, phục hồi chức năng, sinh hoạt cộng đồng, dịch vụ tài chính, công nghệ và giải trí. Nhu cầu lớn nhất không đơn thuần là có người chăm sóc khi cha mẹ đau yếu, mà là làm sao để người cao tuổi sống độc lập, an toàn và có phẩm giá trong thời gian dài nhất có thể.

Một người 65 tuổi còn khỏe có nhu cầu rất khác người 80 tuổi cần hỗ trợ sinh hoạt, và càng khác người cần chăm sóc y tế thường xuyên. Đưa tất cả vào một mô hình viện dưỡng lão vừa tốn kém, vừa không phù hợp.

Kinh tế bạc có thể giải quyết ba nhu cầu thiết thực.

Thứ nhất, giúp người cao tuổi giữ sức khỏe và khả năng tự chủ. Nhà nước đã đặt một nền móng: theo Quyết định 1116/QĐ-TTg ngày 22/6/2026, người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần. Phần doanh nghiệp có thể bổ sung là dinh dưỡng, vận động, phục hồi chức năng và hỗ trợ sinh hoạt hằng ngày.

Thứ hai, tạo ra môi trường sống có cộng đồng, để người cao tuổi tránh cô lập, có hoạt động tinh thần và duy trì quan hệ xã hội.

Thứ ba, hình thành hệ thống chăm sóc chuyên nghiệp để gia đình không phải tự xoay xở mọi việc. Con cái vẫn phụng dưỡng cha mẹ, nhưng không nhất thiết phải tự đảm nhận toàn bộ công việc chăm sóc.

Đó là bước chuyển từ chăm sóc đơn lẻ trong từng gia đình sang một hệ thống có sự tham gia của gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng và Nhà nước.

- Theo ông, doanh nghiệp cần phát triển những mô hình chăm sóc nào để người có thu nhập trung bình và thấp cũng có cơ hội tiếp cận dịch vụ?

Calvin P. Tran: Tôi cho rằng đây là vấn đề quyết định sự thành công của kinh tế bạc tại Việt Nam. Nếu dịch vụ chỉ dành cho người có tài sản lớn thì thị trường sẽ rất hẹp, trong khi nhu cầu chăm sóc thực tế rất rộng.

Doanh nghiệp không nên chỉ phát triển một mô hình giá cao, mà cần xây dựng nhiều tầng dịch vụ.

Tầng thứ nhất là chăm sóc tại nhà: hỗ trợ sinh hoạt, vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng, theo dõi sức khỏe và đưa đón đi khám. Người cao tuổi tiếp tục sống trong gia đình, chi phí tính theo giờ hoặc theo buổi.

Tầng thứ hai là trung tâm chăm sóc ban ngày: ăn uống, vận động, giao lưu, được theo dõi sức khỏe, buổi tối trở về nhà. Mô hình này đặc biệt phù hợp với gia đình có con cái đi làm cả ngày.

Tầng thứ ba là nhà ở cộng đồng cho người còn tự chăm sóc được nhưng muốn sống an toàn, có bạn bè và có dịch vụ hỗ trợ khi cần.

Tầng thứ tư là khu chăm sóc có hỗ trợ và chăm sóc chuyên sâu cho người suy giảm vận động, mắc bệnh mạn tính hoặc cần hỗ trợ thường xuyên.

Điều quan trọng là không bắt mọi người mua trọn gói. Cần đánh giá mức độ cần hỗ trợ của từng người, rồi chỉ tính tiền cho mức chăm sóc thực sự cần thiết.

Về chi phí, có ba hướng cùng làm. Một là Nhà nước hỗ trợ nhóm khó khăn bằng trợ giá, đặt hàng dịch vụ chăm sóc và phát triển mạng lưới chăm sóc cộng đồng.

Hai là doanh nghiệp phối hợp với chính quyền địa phương, hội người cao tuổi, tổ chức xã hội và cơ sở y tế để dùng chung cơ sở vật chất sẵn có như nhà văn hóa, trạm y tế, thay vì xây mới từ đầu.

Ba là nghiên cứu cơ chế chia sẻ chi phí chăm sóc dài hạn, như bảo hiểm chăm sóc dài hạn mà Nhật Bản đã áp dụng từ năm 2000. Quyết định 1116/QĐ-TTg cũng đặt mục tiêu từng bước xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi.

Một mô hình tốt không nhất thiết phải có giá cao. Điều quyết định là tổ chức vận hành hiệu quả, kiểm soát được chi phí và bảo đảm chất lượng.

kinh-te-bac.gif
Chăm sóc người cao tuổi không còn là việc riêng của từng gia đình mà là vấn đề của cả xã hội. Ảnh minh hoạ.

- Nhiều người Việt Nam vẫn có tâm lý e ngại khi đưa cha mẹ vào trung tâm dưỡng lão vì lo ngại chất lượng chăm sóc và quan niệm con cái phải trực tiếp phụng dưỡng cha mẹ. Theo ông, cần làm gì để thay đổi nhận thức và tạo niềm tin cho người dân đối với mô hình này?

Calvin P. Tran: Tôi nghĩ không nên bắt đầu bằng việc thuyết phục người Việt Nam thay đổi quan niệm phụng dưỡng cha mẹ. Đó là một giá trị văn hóa đáng trân trọng và không cần thay đổi. Điều cần thay đổi là cách chúng ta hiểu về phụng dưỡng.

Phụng dưỡng không có nghĩa là con cái phải tự tay làm mọi việc. Một người con có thể yêu thương, thăm nom, lo tài chính và cùng cha mẹ quyết định nơi ở, cách chăm sóc phù hợp. Dùng dịch vụ chuyên nghiệp không đồng nghĩa với bỏ mặc cha mẹ.

Nhưng muốn thay đổi nhận thức, các cơ sở chăm sóc phải chứng minh được chất lượng của mình. Không thể chỉ dựa vào hình ảnh đẹp, phòng ốc sang trọng hay những cam kết chung chung. Tôi đề nghị ba việc.

Thứ nhất, có tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng và được kiểm định độc lập: nhân sự và tỷ lệ nhân viên trên số người được chăm sóc, quy trình chăm sóc, phòng ngừa té ngã, dinh dưỡng, vệ sinh, xử lý cấp cứu và bảo vệ quyền riêng tư.

Thứ hai, minh bạch với gia đình. Hợp đồng dịch vụ phải ghi rõ ai chịu trách nhiệm, người thân được chăm sóc những gì và chi phí được dùng vào đâu. Gia đình được cập nhật tình trạng sức khỏe và các sự cố, được thăm viếng theo quy định, và có kênh khiếu nại rõ ràng.

Thứ ba, tạo điều kiện để người dân trải nghiệm trước khi quyết định, thông qua chăm sóc ban ngày, lưu trú ngắn hạn hoặc phục hồi chức năng sau bệnh.

Niềm tin không thể tạo ra bằng quảng cáo. Nó đến từ chất lượng chăm sóc, sự minh bạch và trách nhiệm lâu dài của đơn vị vận hành.

- Theo ông, Việt Nam đang thiếu những nguồn nhân lực nào trong lĩnh vực này? Cần đào tạo ra sao để bảo đảm người cao tuổi được chăm sóc an toàn, đúng chuyên môn?

Calvin P. Tran: Theo tôi, Việt Nam không chỉ thiếu số lượng nhân lực mà còn thiếu hệ thống đào tạo chuyên biệt và con đường nghề nghiệp rõ ràng cho chăm sóc người cao tuổi. Cần phân biệt ít nhất năm nhóm.

Một là điều dưỡng lão khoa, theo dõi sức khỏe, sử dụng thuốc, nhận biết dấu hiệu bất thường và phối hợp với bác sĩ.

Hai là nhân viên chăm sóc trực tiếp, hỗ trợ ăn uống, vệ sinh, di chuyển và nghỉ ngơi.

Ba là chuyên viên phục hồi chức năng, vật lý trị liệu và hoạt động trị liệu.

Bốn là chuyên viên dinh dưỡng, tâm lý và công tác xã hội, đặc biệt cho người cô đơn, suy giảm nhận thức hoặc đang thích nghi với nơi ở mới.

Năm là đội ngũ quản lý cơ sở, có kiến thức về y tế, nhân sự, an toàn, tài chính và vận hành.

Nhân viên chăm sóc trực tiếp không thể chỉ được đào tạo bằng kinh nghiệm và sự tận tâm. Họ cần được huấn luyện về nâng đỡ người hạn chế vận động, phòng ngừa té ngã, vệ sinh, dinh dưỡng, giao tiếp với người suy giảm nhận thức và xử lý tình huống khẩn cấp.

Tôi đề nghị xây dựng chương trình đào tạo theo cấp độ, có chứng chỉ nghề nghiệp, thực hành tại cơ sở và đánh giá năng lực định kỳ, với sự hợp tác của các trường cao đẳng y tế, bệnh viện, cơ sở chăm sóc và tổ chức nước ngoài có kinh nghiệm.

Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế về người cao tuổi giai đoạn 2026–2031” (Quyết định 1702/QĐ-TTg) mở ra thêm cơ hội cho đào tạo và chuyển giao kỹ thuật. Đồng thời, nên có chương trình huấn luyện ngắn cho người nhà, vì nhiều gia đình vẫn đang tự chăm sóc người thân.

Còn một điểm không thể bỏ qua: chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi sự kiên nhẫn và trách nhiệm cao. Nếu lương thấp, điều kiện làm việc kém và không có lộ trình nghề nghiệp, rất khó giữ người. Muốn có dịch vụ tốt, trước hết phải có người làm nghề được đào tạo tốt và được đối xử xứng đáng.

Ứng dụng công nghệ, AI để nâng cao chất lượng chăm sóc

- Theo ông, ngoài mô hình sống nội trú tại viện dưỡng lão, Việt Nam có nên phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại nhà, chăm sóc ban ngày và phục hồi chức năng tại cộng đồng? Những mô hình này có thể giúp các gia đình giảm gánh nặng kinh tế và thời gian chăm sóc như thế nào?

Calvin P. Tran: Tôi cho rằng Việt Nam rất cần phát triển đồng thời cả ba mô hình này. Trong giai đoạn đầu, chăm sóc tại nhà và chăm sóc ban ngày thậm chí có thể tiếp cận được nhiều gia đình hơn các cơ sở nội trú quy mô lớn.

robot-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-1.jpg
Robot chăm sóc người cao tuổi: Ảnh: Internet.

Không phải người cao tuổi nào cũng cần chuyển đến một cơ sở tập trung. Nhiều người chỉ cần được hỗ trợ vài giờ mỗi ngày, có người đến kiểm tra sức khỏe, giúp sinh hoạt hoặc hướng dẫn tập phục hồi.

Chăm sóc tại nhà giúp người cao tuổi ở trong môi trường quen thuộc. Gia đình không phải đổi nơi ở hay trả phí lưu trú dài hạn; nhân viên đến theo giờ, theo buổi hoặc theo nhu cầu. Vì nhân viên vào tận nhà, cần có kiểm soát: đào tạo, xác minh lý lịch, quy trình báo cáo và bảo hiểm trách nhiệm.

Chăm sóc ban ngày giải quyết một vấn đề rất thực tế: con cái đi làm, cha mẹ ở nhà một mình. Một trung tâm gần khu dân cư có thể lo bữa ăn, vận động, giao lưu, theo dõi sức khỏe và hỗ trợ sinh hoạt trong ngày.

Phục hồi chức năng tại cộng đồng cũng rất quan trọng. Sau bệnh tật, phẫu thuật hay tai biến, nếu được hướng dẫn đúng cách, người cao tuổi có thể cải thiện vận động, giảm phụ thuộc và hạn chế nguy cơ phải chăm sóc dài hạn. Mô hình này nên gắn với trạm y tế và bác sĩ gia đình ở địa phương.

Ba mô hình còn có thể kết nối với nhau: dùng dịch vụ tại nhà khi còn khỏe, tham gia trung tâm ban ngày khi cần thêm hỗ trợ, và chỉ chuyển sang chăm sóc nội trú khi sức khỏe thực sự đòi hỏi. Đó là một hệ thống chăm sóc liên tục thay vì những dịch vụ rời rạc.

Về kinh tế, gia đình mua đúng mức dịch vụ cần thiết, giảm chi phí không cần thiết và bớt thời gian nghỉ việc để chăm sóc người thân. Doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi phục vụ mà không phải đầu tư quá lớn vào đất đai và công trình ngay từ đầu.

- Đâu là những rào cản lớn nhất khiến các doanh nghiệp còn e dè khi tham gia thị trường kinh tế bạc tại Việt Nam? Nhà nước cần có chính sách gì về đất đai, vốn, thuế và thủ tục pháp lý để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi người cao tuổi, thưa ông?

Calvin P. Tran: Theo tôi, rào cản lớn nhất không chỉ là vốn đầu tư mà là sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch, pháp lý, tài chính, nhân lực và khả năng chi trả của khách hàng.

Một cơ sở chăm sóc người cao tuổi cần diện tích phù hợp, không gian an toàn, thiết bị chuyên dụng, nhân sự làm việc theo ca và chi phí vận hành liên tục. Đây không phải loại bất động sản xây xong rồi chờ tăng giá. Nhà đầu tư phải đối mặt với thời gian thu hồi vốn dài, tỷ lệ lấp đầy ban đầu chưa cao, chi phí nhân sự lớn và trách nhiệm pháp lý nặng nếu xảy ra sự cố về sức khỏe hoặc an toàn của người cao tuổi.

Cũng cần ghi nhận Nhà nước đã bắt đầu tạo nền. Nghị quyết 36/NQ-CP ngày 6/3/2026 đưa ra các giải pháp thúc đẩy dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Bộ Chính trị đã giao xây dựng Đề án phát triển kinh tế bạc, và Luật Người cao tuổi (sửa đổi) đang được nghiên cứu.

Ở địa phương, Hà Nội đã ban hành Nghị quyết 80/NQ-HĐND ngày 15/7/2026 về phát triển sản phẩm, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, đồng thời thông qua chủ trương đầu tư một khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi theo phương thức PPP. Điều còn thiếu là những quy định cụ thể, thống nhất để nhà đầu tư tính được bài toán của mình.

Tôi đề nghị bốn nhóm chính sách.

Về đất đai và quy hoạch: xác định rõ vị trí và loại hình cơ sở chăm sóc người cao tuổi trong quy hoạch dịch vụ xã hội; có cơ chế tiếp cận quỹ đất phù hợp, thời hạn sử dụng ổn định và ưu đãi tiền thuê đất cho dự án đáp ứng tiêu chuẩn phục vụ cộng đồng.

Về vốn: khuyến khích ngân hàng phát triển tín dụng dài hạn cho lĩnh vực này; nghiên cứu bảo lãnh tín dụng hoặc quỹ hỗ trợ đầu tư cho dự án phục vụ nhóm thu nhập trung bình và thấp; sử dụng hợp tác công – tư ở nơi phù hợp.

Về thuế: xem xét ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất và thuế nhập khẩu đối với thiết bị chuyên dụng, tùy mức độ phục vụ xã hội của từng dự án.

Về pháp lý: quy trình cấp phép thống nhất giữa y tế, dịch vụ xã hội, xây dựng, phòng cháy chữa cháy và an toàn thực phẩm; phân loại rõ cơ sở nhà ở cho người cao tuổi, cơ sở chăm sóc có hỗ trợ, cơ sở chăm sóc chuyên sâu và cơ sở y tế, để mỗi mô hình chịu quy định phù hợp với chức năng thực tế.

Ưu đãi phải đi cùng trách nhiệm. Nhà nước cần có bộ tiêu chuẩn kiểm định, thanh tra, công khai chất lượng dịch vụ, bảo hiểm trách nhiệm và cơ chế bảo vệ tiền đặt cọc, tài sản và quyền lợi của người cao tuổi.

Tôi muốn nhấn mạnh một điểm: không nên đánh đồng dự án kinh tế bạc với dự án bất động sản. Một cơ sở có thể rất đẹp, nhưng nếu thiếu nhân lực, thiếu quy trình chăm sóc và không bảo đảm an toàn thì không thể gọi là một dự án thành công.

- Nếu nhìn trong 5-10 năm tới, ông đề xuất Việt Nam cần ưu tiên những mô hình kinh tế bạc nào để vừa tạo ra thị trường kinh doanh bền vững, vừa giúp người cao tuổi có cuộc sống độc lập, an toàn và có chất lượng hơn? Đâu là việc cần làm ngay từ bây giờ?

Calvin P. Tran: Theo tôi, nên ưu tiên bốn nhóm mô hình.

Thứ nhất là mạng lưới chăm sóc tại nhà và chăm sóc ban ngày. Đây là những dịch vụ tiếp cận rộng, đầu tư ban đầu linh hoạt và phù hợp với điều kiện sinh hoạt của nhiều gia đình Việt Nam.

Thứ hai là các cộng đồng sống dành cho người cao tuổi. Đây không chỉ là khu nhà ở, cũng không nhất thiết là viện dưỡng lão, mà là môi trường tích hợp nhà ở độc lập, sinh hoạt cộng đồng, dinh dưỡng, vận động, theo dõi sức khỏe và các mức hỗ trợ khi nhu cầu thay đổi.

Thứ ba là phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn và hỗ trợ người suy giảm khả năng tự chăm sóc, một lĩnh vực cần đầu tư nghiêm túc về chuyên môn, nhân lực và thiết bị.

Thứ tư là kinh tế tri thức và dịch vụ cho người cao tuổi còn khả năng lao động. Người cao tuổi không chỉ là đối tượng được chăm sóc; nhiều người vẫn có kiến thức, kinh nghiệm, tài sản và khả năng đóng góp cho xã hội. Quyết định 379/QĐ-TTg ngày 20/2/2025 về Đề án người cao tuổi tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp, tạo việc làm cho thấy hướng đi này đã được đặt ra.

Về việc cần làm ngay, tôi cho rằng có ba ưu tiên.

Một là khảo sát nhu cầu và khả năng chi trả của người cao tuổi theo từng địa phương, thay vì chỉ dựa trên dự báo quy mô dân số.

Hai là xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng và khung pháp lý thống nhất cho các loại hình chăm sóc, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Thủ tướng đã giao Bộ Y tế xây dựng nghị quyết thí điểm về cơ sở y tế phức hợp và chăm sóc người cao tuổi, trong đó có mô hình “Làng Hạnh phúc”. Đây là cơ hội để làm rõ khung pháp lý này, nhưng cần theo dõi văn bản chính thức khi được ban hành.

Ba là triển khai các mô hình thí điểm quy mô vừa phải, có khả năng tự chủ tài chính, đo lường được chất lượng sống và có thể nhân rộng. Không nên bắt đầu bằng những dự án quá lớn, đầu tư cơ sở vật chất vượt xa nhu cầu thực tế.

Kinh tế bạc chỉ phát triển bền vững khi lợi ích kinh doanh và lợi ích xã hội cùng tồn tại. Doanh nghiệp phải có lợi nhuận để duy trì hoạt động, nhưng lợi nhuận không thể được đặt cao hơn phẩm giá và sự an toàn của người cao tuổi.

- Công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các thiết bị chăm sóc thông minh đang thay đổi ngành dịch vụ người cao tuổi trên thế giới. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam có thể ứng dụng những công nghệ nào để giảm chi phí vận hành, nâng cao chất lượng chăm sóc và giải quyết tình trạng thiếu nhân lực?

Calvin P. Tran: Tôi cho rằng công nghệ và trí tuệ nhân tạo có thể giúp ngành chăm sóc người cao tuổi hoạt động hiệu quả hơn, nhưng cần xác định đúng vai trò: công nghệ hỗ trợ con người chăm sóc tốt hơn, chứ không thay thế sự hiện diện và trách nhiệm của con người.

Có năm nhóm ứng dụng đáng quan tâm.

Thứ nhất là theo dõi sức khỏe từ xa. Thiết bị đeo ghi nhận nhịp tim, vận động, giấc ngủ và một số chỉ số sức khỏe; khi phát hiện dấu hiệu bất thường, hệ thống cảnh báo nhân viên phụ trách hoặc người thân.

Thứ hai là cảm biến an toàn trong nhà và phòng ở, phát hiện té ngã, thời gian bất động bất thường hoặc cửa mở ngoài giờ. Đây là ứng dụng thiết thực với người sống một mình hoặc cần hỗ trợ thường xuyên.

Thứ ba là phần mềm quản lý chăm sóc. Hồ sơ sức khỏe, lịch dùng thuốc, dinh dưỡng, lịch khám và lịch phục hồi chức năng được quản lý trên một hệ thống, giảm ghi chép thủ công. Hệ thống nên được thiết kế để có thể kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về người cao tuổi khi cơ sở dữ liệu này hoàn thiện; theo kế hoạch, Bộ Công an chủ trì hoàn thiện vào tháng 11/2026.

Thứ tư là trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chuyên môn: phân tích dữ liệu sức khỏe, nhận diện nguy cơ té ngã, nhắc dùng thuốc, gợi ý chương trình vận động và cảnh báo những thay đổi bất thường. Chẩn đoán, điều trị và xử lý tình huống y tế vẫn thuộc trách nhiệm của người có chuyên môn.

Thứ năm là công nghệ hỗ trợ sinh hoạt và phục hồi chức năng: thiết bị nâng đỡ khi di chuyển, giường thông minh, dụng cụ tập luyện, thiết bị hỗ trợ nghe nhìn.

Về thiếu nhân lực, công nghệ không giải quyết bằng cách thay người, mà bằng cách giảm việc giấy tờ và giám sát thủ công để nhân viên dành nhiều thời gian hơn cho chăm sóc trực tiếp.

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, tôi không nghĩ cần đầu tư ngay vào công nghệ đắt tiền hay hệ thống quá phức tạp. Nên bắt đầu bằng những giải pháp có hiệu quả rõ ràng, dễ sử dụng, kết nối được với nhau và phù hợp năng lực tài chính của cơ sở, thử ở quy mô nhỏ rồi mới mở rộng.

Một yếu tố không thể bỏ qua là bảo mật. Dữ liệu sức khỏe là thông tin nhạy cảm: cần có sự đồng ý rõ ràng của người cao tuổi hoặc người đại diện, phân quyền truy cập và lưu trữ an toàn theo quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Công nghệ không được biến nơi chăm sóc thành nơi giám sát thiếu kiểm soát.

Cuối cùng, hiệu quả của công nghệ không chỉ đo bằng số giờ lao động tiết kiệm hay chi phí vận hành giảm bao nhiêu. Cần đo cả việc người cao tuổi có an toàn hơn không, có ít phải nhập viện hơn không, có giữ được khả năng tự chủ không và gia đình có yên tâm hơn không. Đó mới là giá trị thực sự của công nghệ trong kinh tế bạc.

Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Tuyết