Kinh tế

Thị trường vốn trước áp lực huy động hàng trăm tỷ USD mỗi năm

Thùy Linh • 04/11/2026 07:49

Việt Nam cần 280-300 tỷ USD mỗi năm đến 2030, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cung ứng vốn. Phát triển thị trường vốn trở thành yêu cầu cấp thiết để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng.

Bài toán vốn không chỉ nằm ở quy mô huy động, mà còn ở khả năng đa dạng hóa các kênh dẫn vốn và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Khi tín dụng ngân hàng dần chịu sức ép về dư địa tăng trưởng, thị trường chứng khoán và các kênh tài chính dài hạn cần phát huy vai trò lớn hơn. Điều này đòi hỏi cả việc khơi thông nguồn vốn mới lẫn nâng cao chất lượng thị trường, từ thể chế, hạ tầng đến doanh nghiệp và cơ sở nhà đầu tư.

Ngân hàng gánh vốn lớn, thị trường vốn chưa theo kịp

Theo chuyên gia tài chính TS. Cấn Văn Lực, từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần huy động khoảng 280-300 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân 14%/năm. Riêng TP.HCM cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, tương đương 22% tổng nhu cầu vốn cả nước, phù hợp với mức đóng góp 23,5% GDP cả nước của Thành phố.

Nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn, nhưng cơ cấu huy động vốn vẫn mất cân đối khi hệ thống ngân hàng đang phải gánh phần lớn nhu cầu tài chính.

anh-thi-truong-von.png
Trong bối cảnh thị trường vốn cần phát huy vai trò huy động nguồn lực trung và dài hạn cho nền kinh tế. Ảnh:AI

TS Cấn Văn Lực chỉ ra rằng, tín dụng ngân hàng hiện chiếm tới 51% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế và tỷ trọng này còn có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, thị trường vốn, gồm thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, mới đáp ứng khoảng 13–14% nhu cầu vốn.

Sự chênh lệch này cho thấy các kênh huy động vốn trung và dài hạn ngoài ngân hàng chưa phát triển tương xứng, khiến áp lực cung ứng vốn cho nền kinh tế tiếp tục dồn lên hệ thống tín dụng.

Đồng quan điểm, ông Đinh Đức Minh, Giám đốc Đầu tư Cấp cao của VinaCapital cho biết thêm: Nếu so sánh tỷ lệ tín dụng ngân hàng giữa Việt Nam với các nước ASEAN thì tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên tới 144%, trong khi các nước ASEAN đâu đó trong khoảng từ 60 - 80%, cao nhất là Malaysia cũng chỉ là 120%.

Còn nếu so sánh về tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước ASEAN, cũng đang ở ngưỡng thấp nhất. Hiện tỷ lệ an toàn vốn của Việt Nam chỉ khoảng 12%, trong khi các nước trong khu vực dao động từ 16% - 25%.

Một điểm nghẽn khác là dư địa cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng đang dần thu hẹp do mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Cụ thể, tín dụng có kỳ hạn trên một năm chiếm hơn 40% tổng dư nợ, trong khi tiền gửi có kỳ hạn tương ứng chỉ chiếm gần 20% tổng huy động.

Khoảng cách lớn này cho thấy ngân hàng đang phải sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn, làm gia tăng áp lực thanh khoản và hạn chế khả năng mở rộng tín dụng bền vững cho nền kinh tế.

Liên quan đến việc phát triển các kênh huy động vốn trung và dài hạn ngoài hệ thống ngân hàng ông Minh cho rằng: Hiện nguồn vốn dài hạn trong nước còn tương đối hạn chế. Tổng tài sản quỹ mở trên GDP của Việt Nam hiện tại mới chỉ là 6%, so với các nước khác trong khu vực như Thái Lan hay Malaysia là 20-23%, các nước phát triển thì tổng tài sản quỹ mở lên tới hơn 100% GDP.

Đồng thời với đó, tổng tài sản quỹ hưu trí tự nguyện ở Việt Nam hiện tại còn rất nhỏ, chưa đến 1% GDP. Trong khi những nước khác trong khu vực là từ 5% trở lên, các nước phát triển có thể lên từ 17-20%.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chúng ta còn nhiều dư địa để phát triển. Cụ thể, tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp tính trên GDP đâu đó gần 10%, trong khi các nước khác trong khu vực ASEAN là từ 25 - 30% trở lên. Mục tiêu đẩy phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đẩy tỷ lệ của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trên GDP lên tiệm cận các nước khác trong khu vực, cũng là một mục tiêu rất quan trọng”, ông Minh nói.

Các ngân hàng được định hướng vốn vào sản xuất, kinh doanh, những lĩnh vực ưu tiên. Ảnh: TL
Các doanh nghiệp cần dòng vốn trung dài hạn để phục vụ cho mở rộng đầu tư. Ảnh: TL

Từ góc nhìn của cơ quan quản lý, Chủ tịch UBCKNN Vũ Thị Chân Phương chỉ ra rằng: Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn 2026–2030, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn. Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò huy động vốn và phân bổ vốn trung và dài hạn, đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Với việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa được nâng hạng, thị trường được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các dòng vốn đầu tư đa dạng hơn. Tuy nhiên, khả năng thu hút nguồn vốn không chỉ phụ thuộc vào việc nâng hạng mà còn được quyết định bởi chất lượng thị trường, sức hấp dẫn của doanh nghiệp và môi trường đầu tư.

Về phía các doanh nghiệp cũng cần phải lớn mạnh, tạo ra sức hấp dẫn để thu hút dòng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các tổ chức trung gian, cần tiếp tục nâng cao năng lực tư vấn, quản trị rủi ro và chất lượng dịch vụ, phát huy tốt hơn.

Bên cạnh những cơ hội thuận lợi, thị trường chứng khoán cũng phải đối mặt với không ít thách thức như những biến động về chính trị, nguồn cung và giá năng lượng, chính sách tiền tệ và lãi suất quốc tế có thể tác động đa chiều đến dòng vốn và diễn biến thị trường tài chính toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Điều này đòi hỏi thị trường chứng khoán Việt Nam phải tiếp tục nâng cao khả năng thích ứng và năng lực quản trị rủi ro” bà Chân Phương nhấn mạnh.

Mở rộng nguồn vốn, nâng chất lượng thị trường chứng khoán

Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, TS Cấn Văn Lực cho rằng cần chủ động khai thác 7 nhóm nguồn lực tài chính bổ sung vốn cho nền kinh tế, để giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.

Thứ nhất là phát triển thị trường tài chính xanh và tài chính quốc tế. Đối với kênh này, TP.HCM có lợi thế Trung tâm Tài chính Quốc tế, cần chuẩn hóa danh mục dự án, chương trình cụ thể để giải ngân thực tế, thay vì dừng lại ở các Biên bản ghi nhớ.

Nguồn lực thứ nhất là phát triển thị trường tài chính xanh và tài chính quốc tế. Tuy nhiên, để biến nguồn vốn thành dòng tiền thực tế cho nền kinh tế, cần có các dự án và chương trình cụ thể, đủ điều kiện triển khai và giải ngân. Nếu chỉ dừng ở các biên bản ghi nhớ (MOU) mà chưa chuyển hóa thành dự án thực chất, các cam kết hợp tác sẽ khó tạo ra dòng vốn thực tế.

Nguồn lực thứ hai là phải thúc đẩy thặng dư cán cân thương mại để có thêm nguồn ngoại tệ, cùng nguồn kiều hối, du lịch, thu hút FDI.

Nguồn thứ 3 là tận dụng việc nâng hạng thị trường chứng khoán và tăng tín nhiệm Quốc gia. Việc nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi kỳ vọng năm nay và vài năm tới Việt Nam có thể thu hút thu hút 7-9 tỷ USD dòng vốn gián tiếp.

Nguồn lực tiếp theo là từ thị trường tài sản số, tài sản mã hóa. Hiện Việt Nam hiện nay có khoảng 17-18 triệu người tham gia đầu tư vào tài sản số. Do đó, cần sớm ban hành khung pháp lý để quản lý và thu hút nguồn lực này về phát triển trong nước.

Tiếp đến là nguồn lực từ thị trường mua bán tín chỉ carbon. Bên cạnh đó, một nguồn lực khác cũng vô cùng quan trọng đó là Việt Nam vẫn còn khoảng 1.500 dự án đang bị tồn đọng. Chính vì vậy, chúng ta phải tháo gỡ những dự án này để tăng thêm vốn đầu tư cho toàn xã hội.

Các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm lãi suất cho vay trong những tháng cuối năm 2026, nhằm giảm áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ảnh: T.L
Các ngân hàng thương mại vẫn đang gánh phần lớn nhu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong khi các kênh huy động vốn trung và dài hạn chưa phát triển tương xứng. Ảnh: T.L

Về phía cơ quan quản lý, bà Vũ Thị Chân Phương khẳng định thời gian tới sẽ tiếp tục tập trung triển khai một số giải pháp quan trọng.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường. Hiện nay, dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán đang được Quốc hội xem xét, thảo luận, thông qua tại kỳ họp lần này, với nhiều nội dung sửa đổi quan trọng, trong đó chú trọng cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp huy động vốn và nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.

Cùng với đó, tiếp tục triển khai các giải pháp duy trì và nâng cao chất lượng thị trường sau nâng hạng, hướng tới đáp ứng các tiêu chí nâng hạng cao hơn theo chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng và nâng cao năng lực vận hành thị trường: tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ, trong đó triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) đối với thị trường chứng khoán cơ sở theo lộ trình. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong quản lý, giám sát, bảo đảm thị trường chứng khoán vận hành an toàn, ổn định và thông suốt.

Thứ ba, nâng cao chất lượng hàng hóa và đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp huy động vốn thông qua chào bán chứng khoán, giao dịch chứng khoán niêm yết. Phối hợp thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, triển khai chính sách với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam theo quy định. Đồng thời chỉ đạo các Sở giao dịch chứng khoán nghiên cứu, phát triển các sản phẩm tài chính mới, đáp ứng nhu cầu huy động vốn, đầu tư và quản trị rủi ro, nâng cao sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán.

Thứ tư, cùng với việc mở rộng quy mô thị trường, cần phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng chuyên nghiệp và bền vững, trong đó trọng tâm là gia tăng vai trò của các nhà đầu tư tổ chức, quỹ đầu tư và các định chế tài chính có nguồn vốn dài hạn. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng dòng vốn và tăng tính ổn định cho thị trường chứng khoán.

Để thúc đẩy mục tiêu này, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã xây dựng các đề án liên quan, trong đó có Đề án đào tạo đầu tư và Đề án phát triển quỹ.

Thứ năm, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ đưa AI vào để giám sát các hoạt động và báo cáo tài chính của các công ty niêm yết cũng như các giao dịch bất thường trên thị trường chứng khoán; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các thành viên vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Bên cạnh nỗ lực của cơ quan quản lý, bà Chân Phương cũng nhấn mạnh bản thân doanh nghiệp cũng giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao sức hấp dẫn và khả năng thu hút dòng vốn đầu tư.

Thùy Linh