Nhịp đập công nghệ

Định hướng phát triển đô thị thông minh: Công nghệ nào đóng vai trò chủ đạo?

Thế Lâm • 06/11/2026 07:00

Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% thành phố tổ chức xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh. Đến năm 2035, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ quy hoạch, đầu tư, xây dựng và vận hành đô thị.

Đến năm 2030: 100% thành phố xây dựng đề án đô thị thông minh

Ngày 5/11/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định 2116/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035.

Mục tiêu đến năm 2030 là tạo chuyển biến căn bản trong phương thức quản trị và phát triển đô thị, chuyển từ cách quản lý dựa trên xử lý từng sự vụ, ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Một trong những chỉ tiêu cụ thể là 100% thành phố tổ chức xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh. Các tỉnh cũng tổ chức xây dựng, thực hiện đề án theo nhu cầu, đồng thời từng bước lồng ghép chuyển đổi số với chuyển đổi xanh.

Về dữ liệu, 100% thành phố phải xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị dùng chung theo kế hoạch. Trong đó, dữ liệu nền về địa lý, đất đai, dân cư, quy hoạch và hạ tầng đô thị được ưu tiên chuẩn hóa, làm sạch trước khi kết nối, chia sẻ.

Cũng theo định hướng, 100% thành phố phải hình thành cơ sở dữ liệu về quy hoạch đô thị, hạ tầng và không gian đô thị trên nền tảng hệ thống thông tin địa lý (GIS); thí điểm nền tảng quản lý tích hợp không gian đô thị và ứng dụng bản sao số để giải quyết những bài toán cụ thể.

đô thị thông minh-1
đô thị thông minh-1

Đến năm 2035: Hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông

Nếu giai đoạn đến năm 2030 tập trung xây dựng nền tảng và tạo chuyển biến trong quản trị, tầm nhìn đến năm 2035 hướng tới hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông, an toàn và được khai thác hiệu quả.

Tại các đô thị lớn và đô thị trung tâm, phương thức quản trị và phát triển dựa trên dữ liệu sẽ cơ bản được hình thành. Dữ liệu không còn chỉ phục vụ lưu trữ, báo cáo mà trở thành nguồn lực cho toàn bộ vòng đời phát triển đô thị, từ quy hoạch, đầu tư, xây dựng đến vận hành.

Các quyết định quản trị từng bước được hỗ trợ bởi công cụ phân tích, dự báo, mô phỏng và công nghệ số tiên tiến. Qua đó, cơ quan quản lý có thể nhận diện sớm vấn đề, đánh giá các kịch bản phát triển và lựa chọn phương án phù hợp.

Một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, điều phối liên ngành và phản ứng chính sách. Hệ thống đô thị cũng cần có khả năng duy trì hoạt động khi xảy ra sự cố, phục hồi nhanh, bảo đảm các hạ tầng và dịch vụ thiết yếu tiếp tục vận hành trong tình huống khẩn cấp.

Những công nghệ cốt lõi định hình đô thị thông minh

Trong định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia, dữ liệu và khả năng liên thông được đặt làm nền tảng, cùng với các công nghệ được ưu tiên ứng dụng như GIS, BIM/CIM, mô hình 3D, AI, IoT và bản sao số. Mỗi công nghệ đảm nhiệm một vai trò khác nhau, bổ trợ cho nhau trong hệ thống quản trị đô thị.

Trước hết, GIS là nền tảng quản lý dữ liệu không gian đô thị. Công nghệ này cho phép tích hợp thông tin về quy hoạch, đất đai, dân cư, hạ tầng và các đối tượng trên cùng một hệ quy chiếu không gian. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và cập nhật, cơ quan quản lý có thể theo dõi hiện trạng, phân tích biến động và hỗ trợ quyết định trong quy hoạch, phát triển đô thị.

Trong khi đó, BIM/CIM và mô hình 3D hỗ trợ quản lý thông tin công trình, hạ tầng và không gian xây dựng. BIM tập trung vào mô hình thông tin công trình, còn CIM mở rộng cách tiếp cận sang cấp độ đô thị. Việc kết hợp các mô hình này với dữ liệu GIS tạo điều kiện quản lý đồng bộ hơn giữa công trình và không gian đô thị.

IoT là lớp công nghệ thu thập dữ liệu từ thực tế. Thông qua cảm biến và thiết bị kết nối, dữ liệu về hoạt động của hạ tầng, môi trường đô thị có thể được ghi nhận và cập nhật liên tục. Đây là nguồn đầu vào phục vụ giám sát, vận hành các hệ thống đô thị.

Trên nền dữ liệu đó, AI đảm nhiệm vai trò phân tích, dự báo và hỗ trợ điều hành. Công nghệ này có thể khai thác lượng dữ liệu lớn, nhận diện xu hướng, dự báo tình huống và cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, hiệu quả của AI phụ thuộc đáng kể vào chất lượng và khả năng kết nối của dữ liệu đầu vào.

Một công nghệ khác được định hướng ứng dụng là bản sao số (Digital Twin). Đây là mô hình số mô phỏng một đối tượng, công trình hoặc hệ thống đô thị dựa trên dữ liệu, hỗ trợ theo dõi trạng thái và thử nghiệm các kịch bản vận hành. Chính phủ định hướng thí điểm bản sao số để giải quyết bài toán đô thị cụ thể, đồng thời yêu cầu xác định rõ phạm vi, kịch bản vận hành và trách nhiệm cập nhật dữ liệu.

Mùa mưa ngập úng tại TP.HCM làm gia tăng các bệnh da liễu, nấm kẽ chân. Cảnh báo nguy cơ nhiễm trùng máu từ vết thương hở. Ảnh: minh họa
Ngập úng là một trong những tình trạng mà đô thị thông minh phải giải quyết. Ảnh: minh họa.

Giải pháp: Lấy dữ liệu làm nền tảng, triển khai theo kết quả

Để triển khai định hướng, Quyết định 2116/QĐ-TTg xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và mô hình quản trị; hoàn thiện dữ liệu đô thị và nền tảng số dùng chung; quản lý quy hoạch đô thị thông minh; phát triển hạ tầng số và hạ tầng kỹ thuật thông minh; phát triển khu đô thị, dịch vụ và tiện ích thông minh; đổi mới điều hành; giải quyết các bài toán lớn và huy động nguồn lực; giám sát, đánh giá, nhân rộng mô hình; phát triển nhân lực và hợp tác quốc tế.

Trong đó, dữ liệu được đặt ở vị trí nền tảng. Các cơ sở dữ liệu cần được xây dựng, chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật và kết nối theo nguyên tắc đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung. Cơ quan quản lý phải xác định rõ dữ liệu chủ, tiêu chuẩn kết nối, chất lượng, tần suất cập nhật và trách nhiệm quản trị.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị dùng chung cần xuất phát từ nhu cầu quản trị, ưu tiên dữ liệu quy hoạch, xây dựng và hạ tầng đô thị. Các địa phương cần khai thác dữ liệu chuyên ngành từ cơ quan quản lý dữ liệu nguồn theo thẩm quyền, tránh tạo ra những kho dữ liệu trùng lặp. Kết nối, chia sẻ dữ liệu phải tuân theo Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia và các nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, hạn chế hình thành những hệ thống riêng biệt, thiếu liên thông.

Một nguyên tắc khác là triển khai theo kết quả. Mỗi chương trình, dự án hoặc bài toán đô thị phải xác định số liệu nền, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, chỉ số kết quả đầu ra, chi phí vòng đời, cơ chế vận hành và trách nhiệm cập nhật dữ liệu. Cách tiếp cận này nhằm hạn chế đầu tư công nghệ theo phong trào, thiếu mục tiêu và khó đánh giá hiệu quả sau khi đưa vào sử dụng.

Lộ trình phát triển đô thị thông minh đến năm 2030

- Giai đoạn 2026-2027: Hoàn thiện hướng dẫn, kiến trúc tham chiếu, bộ chỉ số và số liệu nền; vận hành Cổng thông tin đô thị thông minh quốc gia. Các địa phương rà soát hệ thống hiện có, xác định bài toán ưu tiên và nguồn lực thực hiện.

- Giai đoạn 2028-2029: Chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; triển khai, đánh giá các mô hình thí điểm; nâng cấp những nền tảng điều hành đủ điều kiện, sơ kết và nhân rộng mô hình đã được kiểm chứng.

- Năm 2030: Đánh giá việc triển khai thông qua cấp độ trưởng thành và mức độ hoàn thành các chỉ tiêu. Chính phủ tổng kết định hướng, công bố mô hình điển hình và đề xuất nhiệm vụ cho giai đoạn tiếp theo, hướng tới tầm nhìn năm 2035.

Thế Lâm