Dữ liệu phân tán, quản lý tài nguyên nước còn thủ công
Dữ liệu tài nguyên nước hiện còn phân tán, nhiều quy trình quản lý thực hiện thủ công, trong khi các dòng sông đối mặt với suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang thúc đẩy xây dựng nền tảng số tập trung, đồng thời trình đề án phục hồi các dòng sông để nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nước.
Hội thảo “An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông” tổ chức ngày 6/11 tại TP.HCM tập trung vào ba vấn đề: bảo đảm an ninh nguồn nước trước tác động của El Niño và biến đổi khí hậu; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và công cụ dự báo trong quản lí, điều hành nguồn nước; bảo vệ, cải thiện và phục hồi chất lượng nước, dòng chảy và hệ sinh thái sông.
Những nội dung này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lí tài nguyên nước, không chỉ bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất mà còn phải kiểm soát khai thác, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến động khí hậu.
Dữ liệu phân tán, quản lý tài nguyên nước còn thủ công
Tại hội thảo, ông Vũ Văn Thái, Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu thông tin phía Nam (Cục Chuyển đổi số - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết việc đổi mới phương thức quản lí tài nguyên nước cần bắt đầu từ kiến trúc dữ liệu, hạ tầng công nghệ và khả năng kết nối giữa các hệ thống chuyên ngành.

Theo ông Thái, dữ liệu phục vụ quản lí tài nguyên nước hiện vẫn phân tán, khác biệt về định dạng lưu trữ và thiếu cơ chế kết nối tự động. Nhiều quy trình nghiệp vụ còn thực hiện thủ công qua Word, Excel. Dữ liệu từ địa phương chuyển lên Trung ương chủ yếu thông qua sao chép tệp. Trong khi đó, thông tin từ các trạm quan trắc, hồ chứa thủy lợi và thủy điện chưa được kết nối đồng bộ theo thời gian thực.
Thực trạng này khiến việc tổng hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng theo dõi, dự báo và điều hành nguồn nước.
Để khắc phục, ông Thái đề xuất xây dựng nền tảng số tập trung, có khả năng kết nối từ Trung ương đến địa phương, đồng thời tích hợp dữ liệu giữa các lĩnh vực liên quan.
Nền tảng số tài nguyên nước được đề xuất xây dựng với tổng mức đầu tư 50 tỉ đồng. Cục Chuyển đổi số là đơn vị chủ đầu tư; Cục Quản lý Tài nguyên nước là đơn vị thụ hưởng và vận hành nghiệp vụ.
Dự án hướng tới hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia tập trung, chuẩn hóa danh mục và mã định danh, bảo đảm dữ liệu được quản lý thống nhất trên phạm vi cả nước.
Một nguyên tắc quan trọng là thiết lập dữ liệu chủ đối với lưu vực sông và nguồn nước. Theo đó, các hệ thống chuyên ngành và địa phương khi kết nối phải sử dụng mã định danh thống nhất, tránh tình trạng mỗi đơn vị xây dựng một hệ thống mã riêng, gây trùng lặp và khó đồng bộ.
Việc xây dựng nền tảng được đặt trong khuôn khổ các quy định về tài nguyên nước, dữ liệu và giao dịch điện tử. Trong đó, Luật Tài nguyên nước năm 2023 và Nghị định 53/2024/NĐ-CP là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống thông tin tài nguyên nước.
Về phân công trách nhiệm, Cục Chuyển đổi số sẽ xây dựng hạ tầng công nghệ, nền tảng và bảo đảm an toàn thông tin. Cục Quản lí Tài nguyên nước quản lý dữ liệu nghiệp vụ. Các Sở Nông nghiệp và Môi trường cập nhật, khai thác dữ liệu tại địa phương. Doanh nghiệp khai thác tài nguyên nước có trách nhiệm đầu tư, vận hành trạm quan trắc và truyền dữ liệu theo yêu cầu trong giấy phép.
Việc hình thành nền tảng dữ liệu tập trung được kì vọng tạo cơ sở để các cơ quan quản lý theo dõi nguồn nước thống nhất hơn, tăng khả năng kết nối thông tin và hỗ trợ điều hành theo lưu vực sông.
Phục hồi dòng sông phải giải quyết ô nhiễm và suy giảm dòng chảy
Bên cạnh yêu cầu chuyển đổi số, tình trạng suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại nhiều hệ thống sông đang đặt ra áp lực lớn đối với công tác bảo đảm an ninh nguồn nước.
Theo ông Nguyễn Anh Tú, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ ra quyết định và Phát triển tài nguyên nước (Cục Quản lý Tài nguyên nước - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), bảo đảm an ninh nguồn nước và phục hồi các dòng sông đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Dẫn chứng các hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê ở miền Bắc, ông Tú cho biết những dòng sông này đang đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng.
Một trong những nguyên nhân là lòng dẫn sông bị hạ thấp, làm thay đổi mực nước trên dòng chính sông Hồng. Điều này khiến các công trình lấy nước không còn khả năng lấy nước theo thiết kế, ảnh hưởng đến việc duy trì dòng chảy thường xuyên.
Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp và làng nghề làm gia tăng lượng nước thải, trong khi hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn thải lớn nhưng dòng chảy suy kiệt khiến các dòng sông mất dần khả năng tự làm sạch.
Trước thực trạng này, đề án phục hồi các dòng sông được xây dựng trên cơ sở Luật Tài nguyên nước, Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH15, Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản liên quan.
Định hướng xuyên suốt của đề án là tiếp cận liên ngành, đa mục tiêu, thuận theo tự nhiên. Công tác phục hồi không chỉ tập trung xử lý ô nhiễm mà còn hướng tới tái cấu trúc không gian phát triển, kết hợp tiêu thoát nước, chống ngập úng, phát triển giao thông thủy, hình thành các trục cảnh quan sinh thái ven sông và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số.
Trước mắt, đề án tập trung đầu tư đồng bộ hệ thống xử lí nước thải tại các lưu vực. Về lâu dài, đề án nghiên cứu xây dựng 3 cụm đập dâng đa mục tiêu nhằm bổ sung nguồn nước cho các hệ thống sông.
Các giải pháp nạo vét, khơi thông lòng dẫn và mở rộng hành lang thoát lũ cũng được triển khai song song. Hạ tầng quan trắc dự kiến được hiện đại hóa thông qua nâng cấp 51 điểm hiện có và bổ sung 8 trạm quan trắc tự động, kết nối dữ liệu theo thời gian thực.
Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt đề án. Sau khi được thông qua, đây sẽ là cơ sở để các bộ, ngành và địa phương cụ thể hóa nhiệm vụ.
Theo ông Nguyễn Anh Tú, sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước là vấn đề mang tính toàn lưu vực, không thể giải quyết riêng lẻ ở từng địa phương hay từng đoạn sông.
Đề án đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, nhằm bảo đảm các giải pháp được triển khai đồng bộ, liên tục và phù hợp với điều kiện, nguồn lực thực tế.
Trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu làm gia tăng sức ép lên nguồn nước, Đồng bằng sông Cửu Long phải vừa bảo đảm nước cho sản xuất, vừa chủ động thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn và biến động dòng chảy sông Mê Công. Tại Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhu cầu nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và phát triển đô thị cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt trong mùa khô.
Vì vậy, quản trị tài nguyên nước không thể chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ nước trước mắt. Yêu cầu đặt ra là kết hợp khai thác với bảo vệ, phục hồi nguồn nước; đồng thời sử dụng hiệu quả dữ liệu và công nghệ để nâng cao năng lực dự báo, điều hành và ứng phó với những tình huống thiếu hụt nguồn nước.