Bài 1: Trăm năm miền sương khói

Câu chuyện văn hóa - Ngày đăng : 07:36, 27/06/2020

Vừa ra khỏi rừng thông, ấn tượng của tôi thật sâu sắc khi đứng trước một vùng cao nguyên mênh mông, hoang vắng và trơ trọi, gợi nhớ lại cảnh biển động vì một đợt sóng khổng lồ màu xanh dâng lên. Núi Lang Biang sừng sững ở chân trời phía tây bắc cao nguyên, làm tăng thêm vẻ đẹp của cảnh quan và tạo nên một hậu cảnh tuyệt mỹ”.
Hồ Xuân Hương không còn vẻ thôi miên bởi những căn nhà cao tầng - Ảnh: Chí Hùng

Đó là những dòng nhật ký của bác sĩ, nhà thám hiểm Alexandre Yersin vào ngày 21.6.1893. Có lẽ ngay cả bản thân ông cũng không ngờ chính chuyến đi ấy là tiền đề quan trọng để bắt đầu một giấc mơ Đà Lạt đầy hoang đường và rực rỡ.

Tôi đến Đà Lạt lần đầu sau Yersin hơn 100 năm. Lần đó, tôi được đề nghị đi theo đoàn khảo sát thực tế của nhóm giảng viên trường đại học. Nhiệm vụ của tôi cũng khá đơn giản, chỉ là viết 1 bài tường thuật lại chuyến đi. Mọi chi phí ăn nghỉ đoàn lo hết. Cô trưởng đoàn còn tế nhị nhét vào túi tôi mấy trăm ngàn để có thể ăn vặt hoặc uống cà phê, vì cô đã biết quá rõ hoàn cảnh một sinh viên mới tốt nghiệp.

Du khách đến Đà Lạt - Ảnh: Chí Hùng

Khi ấy tôi vẫn chưa xin được việc làm chính thức, còn đi phụ hồ để chờ kết quả mấy bộ hồ sơ đã chăm chút tỉ mỉ gửi đến các cơ quan. Mỗi ngày tôi đều hy vọng có cơ quan nào đó điện đến và nói về bộ hồ sơ, nói về những công việc tôi sẽ làm, mức lương tôi sẽ nhận. Nhưng chẳng có nơi nào điện, cho đến khi cô trưởng đoàn gọi cho tôi để bắt đầu cơ duyên với Đà Lạt.

Tôi nhớ sau giấc ngủ khá dài trên xe, đoàn có ghé lại nhà của một người quen ở Bảo Lộc. Giữa mùa hè nhưng cái lạnh ngọt ngào xứ cao nguyên đã bắt đầu miên man da thịt khiến ai nấy đều thích thú. Chủ nhà đãi chúng tôi những ly trà đặc sánh, thơm lừng. Tôi cầm ly trà mân mê cho ấm lòng bàn tay, rồi uống từng ngụm nhỏ. Vị trà đắng chát nhưng hậu ngọt, uống vào đến đâu thấy ấm lòng đến đó.

Chủ nhà là một phụ nữ trung niên, áo khoác màu hồng nhạt, ngồi kể một cách chậm rãi về duyên nợ khiến bà rời An Giang lên định cư ở vùng đất Bảo Lộc này từ hơn 20 năm trước. Dường như trước mắt bà là màn hình đang tua chậm lại những thước phim đời, có cay đắng ngọt bùi, có tin tưởng và lo âu. Nhưng kết thúc của dòng phim ấy rất có hậu với một ngôi nhà khang trang trên triền dốc, với một người chồng chu đáo lịch thiệp và 2 đứa con ngoan đang độ tuổi đến trường. Bà kể chậm nhưng không buồn, cơ hồ như cuộc đời bà đã chọn vùng đất cao nguyên này để sống mà tận hưởng niềm hạnh phúc trong an lạc.

Tôi đi dạo một vòng quanh ngôi nhà, thấy ngập tràn hoa và cây trái. Đó là bức tranh đẹp và thanh khiết được tạo nên bằng chính bàn tay của con người. Nó tác động vào tôi mạnh đến mức từ bận ấy đến nay, không lúc nào tôi thôi mơ ước về một ngôi nhà và khu vườn như thế. Tôi ước mỗi sáng sẽ được thức giấc trong cái lạnh se se bên tách trà nóng nghi ngút khói, trong lãng đãng sương mù và hương hoa quyện cùng tiếng chim hót líu lo. Tôi sẽ kê cái bàn viết ngay cạnh cửa sổ, hướng mắt ra khu vườn. Những trang văn nhất định sẽ đẹp đẽ và ngát hương.

Chút hoài cổ nơi nhà ga Đà Lạt- Ảnh: Chí Hùng

Ý nghĩ về căn nhà mơ ước ấy khiến tôi chìm vào cơn ngủ thật dịu êm, đến khi thức giấc thì xe của đoàn đang qua đèo Prenn. Lần đầu trong đời tôi được nhìn thấy nhiều cây thông đến thế. Hàng ngàn cây cao lớn, đứng sừng sững giữa núi rừng, hiên ngang như các chiến sĩ trong buổi duyệt binh. Sương mù quấn lấy những gốc thông cổ thụ, có khi phủ lên đến ngọn khiến ta dễ liên tưởng tới một cuộc tình tự của thiên nhiên tạo hóa.

Đến tận bây giờ tôi vẫn giữ nguyên ý nghĩ rằng, Đà Lạt không cần phải xây cổng chào như bao thành phố khác. Chỉ cần những hàng thông trong màn sương hư ảo trên đèo Prenn thôi đã là thông điệp ấn tượng mà bất kỳ nơi nào cũng không thể có được: Chào mừng bạn đến với xứ sở sương mù, xứ sở ngàn thông.

Đoàn chúng tôi đến một căn nhà trên con dốc gần ga Đà Lạt, có chia ra khu phòng nghỉ cho khách lưu trú và khu dành riêng cho gia chủ. Trong khi đợi xếp phòng, ông chủ từ tốn giới thiệu với khách về sự gắn bó của gia đình ông với xứ sở này mấy chục năm qua. Cô con gái út của ông chừng tuổi 18, mặc chiếc áo khoác xanh dương, cổ quấn khăn choàng màu trắng, bưng ra cho chúng tôi mấy bình trà nóng, vài đĩa bánh mứt đặc sản. Ai cũng háo hức đón lấy những cốc trà để nhanh chóng xua tan cái lạnh ngày càng đậm. Riêng tôi mải đắm hồn mình với gương mặt thanh tú của cô.

Hai má và mũi cô hồng lên do tiết trời lạnh, đôi mắt to, đen huyền sau hàng mi cong vút và đôi môi mọng đỏ như “đốm lửa hồng” (như lời bài hát Ru đời đi nhé của Trịnh Công Sơn). Mấy hôm sau, khi đã thôi bỡ ngỡ, cô mới cho tôi biết tên cô là Huyền My, vừa học xong bậc phổ thông, chuẩn bị học đại học dưới Sài Gòn. Tôi hỏi Huyền My nên đi đâu để hiểu về Đà Lạt, cô kêu tôi cứ đi bất cứ đâu, vì Đà Lạt đã ngấm vào hồn cỏ cây, phảng phất trong từng lối đi góc phố, trong mỗi con người đang trôi trên những cung đường mù sương.

Đó là cách cô gái 18 nghĩ về Đà Lạt, giản đơn nhưng sâu sắc, mộc mạc và đầy thơ. Khi biết tôi vừa tốt nghiệp văn khoa, Huyền My không ngại dẫn tôi xem kho sách của gia đình cô. Những quyển sách ố vàng được xếp trang trọng trên giá, kiêu hãnh sứ mệnh lưu lại bao nỗi thăng trầm của thế cuộc. Huyền My nói trong mỗi gia đình của người Đà Lạt thường có tủ sách và cây đàn, bấy nhiêu đó thôi đủ để họ sống cùng nỗi cô đơn và lãng mạn trác tuyệt.

Tôi bỗng nhớ đến vị Khâm sứ Trung Kỳ tên Jean Auvergne, khi đặt chân lên vùng đất Đà Lạt vào những năm 1900, ông đã cho người mang lên cây đàn piano. Có lẽ ông đã không chịu nổi sự cô đơn và giá lạnh nơi cao nguyên Lâm Viên trong những ngày lưu lại nơi đây. Để rồi những nốt nhạc dìu dặt phát xuất tận trời tây đã vang vọng miền khói sương huyền ảo từ hơn trăm năm trước.

Biết đâu rằng những nhạc sĩ tài hoa như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên -Phương đã bắt gặp hồn phách của những tiếng đàn khởi nguyên còn quyện hòa trong cỏ cây mây nước Đà Lạt, để rồi tạo ra những nhạc phẩm bất hủ lưu lại cho đời. Và người dân Đà Lạt chẳng biết từ bao giờ, cũng đã xem âm nhạc như một phần không thể thiếu trong cuộc sống.

Tôi chọn một quyển sách cũ, lật từng trang tìm xem hành trình của các bậc tiền nhân khi chinh phục miền đất Đà Lạt. Huyền My ngồi bên chiếc đàn piano, lướt những phím tơ trầm bổng. Ngoài trời, mưa phùn lất phất, trong thư phòng có 2 tâm hồn đang đắm chìm trong tiếng nhạc cùng với những giấc mộng phiêu bồng.

Tôi nghe theo lời Huyền My, cứ khi nào có thời gian rảnh là đi lang thang, mong tìm thấy hồn phách của trăm năm Đà Lạt. Tôi thường đi bộ theo các con đường mòn, rẽ vào bất cứ lối nào mình thích. Và không biết lý do gì, vào đêm nọ tôi bỗng rẽ vào con đường nhỏ, đi miết, đi miết lên sườn đồi thinh vắng. Nhìn trong lờ mờ mưa, tôi thấy vài vệt sáng rung rinh, lại gần mới biết đó là những chiếc đèn nhỏ xíu dẫn lối vào lữ quán.

Quán nhỏ, chen với rừng. Những vòm cây được tỉa nhẹ nhàng lại để làm chỗ trú chân cho kẻ độc hành. Tôi ngồi ở góc quán, tựa vào thân cây xù xì, gọi ly đen nóng tê đầu lưỡi. Lát sau, vị chủ quán ra, giới thiệu bằng một chất giọng cuốn hút đến ma mị. Ông nói, bằng giọng âm trầm, về cuộc đời Trịnh, về những mối tình của Trịnh, về những nỗi đau của Trịnh. Sau mỗi câu chuyện ông kể là một bài hát mà Trịnh đã viết nên từ câu chuyện ấy.

Tiếng guitar dìu dặt cất lên, tiếng hát khi vút cao giữa đại ngàn khi mượt mà âm vọng đưa hồn người vào những nỗi niềm sâu thẳm. Mặc cho mưa gió ngoài kia, trong góc quán ấy chỉ thiêng liêng hiện hữu thứ duy nhất chính là âm nhạc. Tôi như bị thôi miên, đắm vào những câu chuyện vị chủ quán kể, đắm vào những du dương. Khi vị chủ quán nói lời từ biệt thì đã 12 giờ đêm.

Lững thững ra về, một đứa sinh viên mới rời ghế giảng đường như tôi đã bắt đầu thấu hiểu huyền năng của nghệ thuật. Sáng hôm sau tôi kể cho Huyền My nghe về cuộc hội ngộ âm nhạc đầy xúc cảm ấy và rủ My cùng đi thưởng thức với tôi. Huyền My cười nhẹ bảo, du khách rất thích những góc quán ấy. Còn riêng người Đà Lạt, họ ít đến quán, vì trong căn nhà của họ đã có lữ quán riêng rồi.

Tôi thấy Huyền My nói đúng, vì những người Đà Lạt tôi may mắn được tiếp xúc đều tỏ ra thân thiện mến khách nhưng vẫn có chút gì đó thâm trầm, minh tuệ nhưng đơn độc. Cốt cách ấy khiến họ ngại hòa vào những đám đông. Họ như những căn biệt thự cổ kính sang trọng nằm lặng lẽ trên một ngọn đồi vắng, chứa đựng vẻ đẹp bất tuyệt. Chỉ một chút xô bồ cũng có thể làm vỡ đi cái đẹp hoàn mỹ ấy.

Trương Chí Hùng