Hồ sơ bóng đá Nhật: Từ sơ khai đến đỉnh cao châu Á (kỳ 4)

Thể thao - Ngày đăng : 08:44, 25/12/2014

Người Nhật xác định những cầu thủ hay HLV ngoại khi sang J-League tức là những người thầy của họ. Việc chọn lựa cầu thủ ngoại là điều mà bóng đá Nhật rất chú trọng vì “thầy có giỏi thì trò mới nên”. Những ngôi sao ngoại quốc đã góp phần làm thay đổi diện mạo J-League ở khía cạnh chuyên môn lẫn tính thương mại.

Hồ sơ bóng đá Nhật: Từ sơ khai đến đỉnh cao châu Á (kỳ 3)

Hồ sơ bóng đá Nhật: Từ sơ khai cho đến đỉnh cao châu Á (kỳ 2)

Hồ sơ bóng đá Nhật: Từ sơ khai cho đến đỉnh cao châu Á (kỳ 1)

Chọn thầy không thể chọn bừa
Zico là cầu thủ nổi tiếng nhất đến với bóng đá J-League buổi đầu trong màu áo Kashima Antlers. Sau trận chung kết J-League 1993 với Verdy Kawasaki, Zico coi như hoàn thành sứ mệnh lịch sử với Anlters nên ông giã từ ở tuổi 40 rồi về lại quê nhà, chuyển sang bóng đá bãi biển… “cày” tiếp 2 năm nữa, vô địch giải Beach World Soccer 1995 và đoạt giải Vua phá lưới (12 bàn) mới chịu treo giày.
bong da Nhat
"Spirit of Zico" - Tinh thần Zico đã truyền cảm hứng cho J-League.

Sự tài hoa, thông minh, quyết đoán nhưng đầy chất ngẫu hứng của Zico tạo ảnh hưởng sâu đậm lên thế hệ cầu thủ Nhật ở J-League giai đoạn đầu. Một trong những cầu thủ chịu ảnh hưởng của Zico là Kazu Miura – đội trưởng của Verdy Kawasaki.

Không giống như những cầu thủ Nhật vốn chỉnh chu, Kazu Miura (sinh năm 1967) và các đồng đội khác ở Verdy như Nobuhiro Takeda, Tsuyoshi Kitazawa lại có phong cách bùng nổ như những ngôi sao nhạc rock và cũng ngược hẳn với vẻ oai phong võ thuật như phong cách của các ngôi sao bóng chày, môn thể thao số 1 ở Nhật Bản.

Giống Zico, “King Kazu” cũng thích lang bạt. Đá ở Verdy, Kazu tìm cách sang Genoa (Ý-1995) rồi sang Dinamo Zagreb (Serbia-1999), Sydney (Úc-2005) để tìm kiếm thử thách ở vùng đất lạ sau khi đã trải qua hết Kyoto Purple Sanga (1999-2000), Vissel Kobe (2001-2005), Yokohama FC (2005-2012) ở J-League và J-League 2 khi đã ở tuổi 46!
Rất khó tin, ở tuổi 47, Kazu Miura vẫn chưa chịu treo giày khi Espolada Hokkaido ở giải VĐQG Futsal của Nhật Bản.
bong da Nhat
Kazu Miura - ngôi sao nội địa tỏa sáng nhất J-League thuở đầu.
Một danh thủ khác cũng đến với bóng đá Nhật Bản cùng thời điểm với Zico, trước khi J-League khai màn 1 năm là Gary Lineker - “Vua phá lưới World Cup 1986”. Tiền đạo người Anh ký hợp đồng hai năm với Nagoya Grampus Eight – đội bóng thuộc sở hữu của Toyota Motor nhưng đá gần hết hợp đồng thì bị chấn thương nặng phải giải nghệ vào cuối mùa 1994. Gary Lineker đã ghi 9 bàn sau 23 trận cho Nagoya Grampus Eight nên không để lại nhiều dấn ấn như Zico dù Lineker chỉ mới tuổi 34, rất sung mãn.
bong da Nhat
Gary Lineker - Vua phá lưới World Cup đầu tiên đến J-League.
Có thể kể thêm ngôi sao khác như Pirrere Littbarski (người Đức sinh năm 1960) đã chơi 2 mùa cho JEF United Ichihara Chiba (1993-1995) theo lời mời của đồng đội cũ ở FC Koln là Yasuhiko Okudera. Littbarski là tiền vệ nổi tiếng thông minh nên khi chia tay JEF United Ichihara Chiba thì vẫn còn chơi tiếp được cho Brummel Sendai, đội đá ở Japan Football League (JFL - tức J-League 2 sau này).
bong da Nhat
và Pierre Littbarski - nhà vô địch thế giới đầu tiên đến J-League với CLB JEF United Ichihara Chiba
Zico, Lineker, Littbarski là những ngôi sao lớn đã đến với J-League ngay trong những ngày khai sinh.

Đến J-League vì sự ngưỡng mộ với nước Nhật

Đã có rất nhiều hiểu lầm khi cho rằng J-League chỉ là “bãi đáp” của các cầu thủ sắp về vườn trước khi treo giày. Điều này đúng phần nào nhưng rất nhiều ngôi sao lớn khác đến với J-League khi vẫn trong độ tuổi còn khá sung sức và họ bị hấp dẫn bởi môi trường thi đấu mới mẻ và cũng vì ấn tượng, tình cảm tốt đẹp với đất nước Nhật.

Nói về tiền, J-League chưa bao giờ được coi sức hút đối với các ngôi sao lớn thế giới. Tháng 1.2014 vừa rồi tiền đạo Diego Forlan ký hợp đồng với Cezero Osaka nhận mức lương 5,8 triệu USD được coi là kỷ lục trong lịch sử J-League thì đủ để hiểu trước kia Nhật Bản không phải là chỗ đến”hốt tiền”

Trong khi đó, những ngôi sao đã “hết xí quách” như Stefan Effenberg, Canavaro sang Trung Đông hoặc Roberto Carlos, Eto’o sang Nga; Beckham, Thiery Henry, Rafael Maquez, Robbie Kean, Nesta đến MLS; Drogba, Anelka đầu quân cho Chinese Super League… được đãi ngộ hậu hĩnh hơn nhiều.

Hàng loạt ngôi sao lớn rủ nhau đến Nhật ở thập kỷ 1990 có thể nói ẩn chứa trong đó tình yêu, sự ngưỡng mộ đối với xứ Phù Tang cũng như cách thức tổ chức bóng đá chuyên nghiệp của J-League hơn là tiền bạc. Một trong những ví dụ đó là huyền thoại người Đan Mạch Michael Ladrup.

Michael Laudrup (sinh năm 1964) cập bến Vissel Kobe ở mùa 1996-1997 để giúp CLB ở thành phố Kobe vốn hoang tàn sau trận động đất khủng khiếp vào năm 1995  đang đá ở JFL giành quyền thăng hạng J-League, trước khi rời đi để về lại đá cho Ajax Amsterdam. Hành động của Michael Laudrup có ý tinh thần rất lớn, niềm ai ủi cho cư dân Kobe khi lần đầu tiên CLB bóng đá của họ góp mặt ở sân chơi danh giá J-League.

Một huyền thoại khác Hristo Stoichkov đến với Kashiwa Reysol năm 1998 ở tuổi 32 và đá 28 trận, ghi 13 bàn thì cũng khó có thể nói là già vì sau đó “Vua phá lưới World Cup 1994” còn lang bạt ở giải MLS đến tận năm 2003 mới treo giày ở tuổi 37.
bong da Nhat
Hristo Stoichkov là Vua phá lưới World Cup thứ 3 đến với Nhật Bản.

Hoặc như trung vệ Guido Buchwald, nhà vô địch World Cup 1990, đến đá cho Uwara Reds ba mùa từ 1994-1997 đến 127 trận (11 bàn) nhưng vẫn đủ sức quay lại Đức cày tiếp cho Karlsrusher SC đến 40 trận trong mùa nữa 1997-1999 mới giã từ sự nghiệp ở tuổi 38.

Phải nói rất nhiều cầu thủ xuất sắc đã cập bến J-League thập niên 1990 có thể liệt kê ra như Bismarck (Brazil), Ramon Diaz (Argentina, Vua phá lưới J-League 1993), Patrick M’boma (Cameroon, Vua phá lưới J-League 1998)…

Mảnh đất nuôi dưỡng tài năng

J-League cũng không phải là nơi để các danh thủ đá bóng làng nhàng cũng “ăn tiền”. Ngược lại, J-League chính là nơi cứu vãn danh tiếng cũng như làm bệ phóng cho không ít ngôi sao trở lại đỉnh cao thế giới.

Nói về sự cống hiến hiệu quả, lâu dài thì không ai qua mặt được bộ đội Carlos Dunga – thủ lĩnh Selecao ở World Cup 1994 và Toto Schillaci – “Vua phá lưới World Cup 1990” của Jubilo Iwata. Tiền đạo Schillaci đến với Jubio năm 1994 ở tuổi 30, còn Dunga đến sau đó 1 năm ở tuổi 32 khi đã trở thành nhà VĐTG vào năm 1994.
bong da Nhat
"Toto"Schillaci - Vua phá lưới World Cup Italia 1990 trong màu áo Jbilo Iwata.
Bộ đôi Dunga-Schillaci đã đưa Jubilo Iwata, CLB thuộc tập đoàn Yamaha, vừa mới thăng hạng J-League 1994 lên một đỉnh huy hoàng. Dunga ở dưới làm thủ lĩnh, phía trên “Toto” ghi bàn như máy và đã đưa Jubilo vô địch J-League 1997 để rồi cùng nhau giã từ CLB vào năm 1998, một năm trước khi Jubilo Iwata trở thành CLB Nhật Bản vô địch Cúp C1 châu Á. Schillaci đã hồi phục danh tiếng tưởng chừng bị chôn vùi sau World Cup 1990 với 56 bàn thắng/78 trận trong ba mùa.
bong da Nhat
Carlos Dunga với phong cách thủ lĩnh quen thuộc trên sân cỏ Nhật Bản

Dunga còn làm được nhiều hơn thế. Sau Zico thì Dunga tiếp tục là hiện tượng của J-League khi với tính khí nóng nảy, tiền vệ này thường xuyên va chạm với các cầu thủ Nhật và thậm chí còn bị các đồng đội ở Jubilo phân biệt đối xử. Bất chấp tất cả và gạt bỏ ngoài tai, cá tính lẫn tư chất thủ lĩnh của Dunga vẫn bao trùm lấy Jubilo Iwata. Dunga là cầu thủ kỳ cựu hiếm hoi sang J-League đã ở tuổi “băm mấy nhát” nhưng vẫn giữ được đỉnh cao khi tiếp tục làm đội trưởng ĐTQG Brazil đi đến trận chung kết World Cup 1998 với chủ nhà Pháp.

Một danh thủ khác cũng nhờ J-League mà “hồi phục công lực” là Leonardo của Brazil. Sau cú giật chỏ tai tiếng làm vỡ mặt tiền vệ Tab Ramos của tuyển Mỹ ở World Cup 1994, tên tuổi của Leonardo lúc đó mới 25 tuổi bị hủy hoại nghiêm trọng và phải đến Kashima Antlers của Zico ngay sau World Cup kết thúc. Ở J-League, Leonardo với chân trái ma thuật cùng một cái đầu cực kỳ thông minh đã tỏa sáng rực rỡ là nhân tố chính dẫn dắt Kashima Antlers đi đến chức vô địch đầu tiên ở mùa giải 1996 – một tiền đề để sau này Antlers đoạt đến 6 Cúp vô địch nữa để trở thành CLB thành công nhất lịch sử J-League.
bong da Nhat
Nhờ J-League mà Leonardo đã cứu vãn sự nghiệp để quay trở lại đỉnh cao châu Âu

Rời Nhật Bản ở tuổi chín muồi 27 (1996), Leonardo đã quay lại đỉnh cao châu Âu trong màu áo PSG, AC Milan. Leonardo là một trong số rất ít cầu thủ ngoại quốc, học vào nói tiếng Nhật – ngôn ngữ rất khó nhằn, một cách thông thạo!

Ngôi đền của các huyền thoại J-League sẽ rất thiếu sót nếu bỏ qua Dragan Stojkovic, người đã chơi 7 năm cho Nagoya Grampus Eight (1994-2001) với 183 trận ra sân và 57 bàn thắng. Đến với nước Nhật khi 29 tuổi, tiền vệ người Nam Tư (cũ) đã làm say đắm khán giả Nhật nhờ phong cách thi đấu mượt mà, đậm chất kỹ thuật. Stojkovic còn có một sở thích kỳ quái nhưng gây hứng thú cho CĐV là trêu chọc các trọng tài. Có lần, Stojkovic đã giật chiếc thẻ vàng của trong tay của trọng tài rồi giơ lên phạt lại chính trọng tài này để rồi “ăn” thẻ đỏ rời sân!
bong da Nhat
Dragan Stojkovic là cầu thủ gắn bó lâu nhất với J-League trên cương vị cầu thủ lẫn HLV. Stojkovic là cầu thủ ngoại xuất sắc nhất lịch sử bóng đá Nhật Bản.

Dragan Stojkovic được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất J-League 1995. Sau khi treo giày chuyển sang nghiệp cầm quân, chính Stojkovic đã dẫn dắt Nagoya Grampus Eight đoạt chức vô địch J-League đầu tiên vào năm 2010.

Huấn luyện Dragan Stojkovic ở Nagoya Grampus Eight thời điểm 1995-1996 là một HLV mà sau này cả thế giới đều kính phục: Arsene Wenger. Chỉ có 18 tháng làm việc ở Nagoya, “Giáo sư” Wenger đã giúp Nagoya Grampus đoạt Cúp Hoàng đế 1995 và nhận giải HLV xuất sắc nhất năm. Sang mùa 1996, ông Wenger đã đưa Nagoya Grampus giành vị trí Á quân J-League - thành tích cao nhất của họ từ khi thành lập. Sự tỏa sáng của Arsene Wenger ở Nhật Bản đã là nguyên nhân giúp ông đến với Arsenal vào năm cuối năm 1996.

Về sau này, J-League vẫn làm bệ đỡ cho các cầu thủ ngoại quốc trước khi sang châu Âu để rồi trở thành ngôi sao sáng như Park Ji-Sung (Kyoto Purple Sanga), Hulk (Kawasaki Frontale, Verdy Tokyo)…

Và những ngôi sao bản địa ra đời

Ảnh hưởng to lớn của những ngoại binh chất lượng cao đã giúp ích cho cầu thủ Nhật rất nhiều. Ngoài Kazu Miura của Verdy ngôi sao nổi tiếng nhất thời đó thì một cầu thủ khác từng được khán giả Việt Nam ít nhiều biết đến là Hiroshi Nanami – người mang áo số 10 của ĐT Nhật Bản những năm cuối thập kỷ 1990.
bong da Nhat
Nanami - nhạc trưởng của ĐT Nhật Bản thập kỷ 1990

Nanami là ngôi sao của J-Leaugue trong màu áo Jubilo Iwata thời Dunga-Schillaci và là người dẫn dắt Julilo Iwata đoạt Cúp C1 châu Á khi bộ đôi huyền thoại Brazil-Ý đã rời Nhật Bản. Nanami có dáng vẻ thư sinh, lối chơi hào hoa y như kiểu Tsubasa và từng có thời gian san Ý thử sức trong màu áo Venezia (1999-2000) nhưng không thành công. Dù vậy, Nanami vẫn là ngôi sao châu Á ngày đó khi đoạt giải Cầu thủ hay nhất châu Á năm 2000 khi giúp ĐT Nhật Bản đã vô địch Asian Cup.

Kazu Miura và Nanami là hai cầu thủ Nhật nổi tiếng nhất cho đến khi J-League xuất hiện một ngôi sao mà sau này cả thế giới đều biết đến: Hidetoshi Nakata, tiền vệ chơi cho Shonan Bellmare trước khi đầu quân cho Peruggia sau World Cup 1998.
Thành công của Nakata ở đất Ý trong màu áo AS Roma đã tiếp sức rất nhiều cho sau cho nhiều cầu thủ Nhật Bản sang ở châu Âu sau này như Inamoto (Arsenal, Fullham), Shinji Ono (Feyennoord), Nagamoto (Inter), Kagawa (Dortmund, M.U), Honda (CSKA Moscow, AC Milan), Shinji Okazaki (Mainz 05)…
bong da Nhat
Hidetoshi Nakata trong màu áo Shonan Bellmare. Nakata là người mở ra thành công cho các cầu thủchuyên nghiệpNhật Bản thi đấu ở châu Âu.

Một thành công lớn nhất của ngoại binh ở J-League là sự xuất hiện của họ không “đè bẹp” cầu thủ bản địa mà ngược lại đã nâng đỡ các cầu thủ Nhật tỏa sáng.

Kazu Miura (1993), Masashi Nakayama (1998), Sunsuke Nakamura (2000, 2013), Toshiya Fujita (2001), Naohiko Takahara (2002), Yuji Nakazawa (2004), Marcus Tulio Tanaka (2006), Mitsuo Ogasawara (2009), Seigo Narazaki (2010) là những cầu thủ Nhật (không tính ngoại binh nhập tịch) đã đoạt 10/20 giải Cầu thủ hay nhất J-League trong lịch sử 20 năm giải đấu (1993-2013).

Tương tự, ngôi “Vua phá lưới J-League” đã 9 lần vinh danh các chân sút Nhật là: Masahiro Fukuda (32 bàn, 1995), Kazu Mirura (23 bàn, 1996),  Masashi Nakayama (36 bàn, 1998 và 20 bàn, 2000), Naohiro Takahara (26 bàn, 2002), Ryoichi Maeda (20 bàn, 2009 và 17 bàn, 2010), Hisato Sato (22 bàn, 2012), Yoshito Okubo (26 bàn, 2013).

Một sự cạnh tranh hoàn toàn sòng phẳng đã cho thấy cầu thủ Nhật đã tiến bộ như thế nào bên cạnh những ngôi sao ngoại quốc trên bầu trời J-League.

Top 10 gương mặt ngoại xuất sắc nhất bóng đá Nhật Bản theo Asian Football Feast:

1 – Dragan Stojkovic – Nam Tư (Nagoya Grampus Eight 1994-2001; 183 trận/57 bàn).

2- Carlos Dunga - Brazil (Jubilo Iwata 1995-1998; 99 trận/16 bàn).

3- Guido Buchwald – Đức (Uwara Reds 1994-1997; 127 trận/11 bàn).

4- Zico – Brazil  (Kashima Anttlers 1991-1994, 45 trận/36 bàn).

5- Dettmar Cramer – Đức (HLV tuyển Nhật Bản, đánh bại Olympic Argentina 3-2 ở Olympic Tokyo 1964, HCĐ Olympic Mexico 1968).

6 – Phillipe Troussier – Pháp (HLV U.20 Nhật hạng Nhì U.20 TG 1999, ĐTQG Nhật vô địch Asian Cup 2000 và World Cup 2002).

7 – Tom Byer – Mỹ (HLV, nhà quản lý đào tạo bóng đá trẻ ở Nhật. Có công phát hiện Shinji Kagawa và Aya Miyama (bóng đá nữ) và phát triển loạt chương trình phổ biến bóng đá qua tivi, DVD...

8 – Dido Havenaar – Hà Lan (thủ môn Mazda 1986-1989, Youmiuri 1989-1991, Nagoya Grampus 1991-1994, Jubilo Iwata 1995-1996, Consadole Sapporo 1997-1998; 270 trận).

9 – Amaral (FC Tokyo 1992 – 2003, Shonan Bellmare 2004; FC Horikoshi 2005 – 2007, FC Kariya; 338 trận/183 bàn. Huyền thoại của Tokyo FC với 165 bàn/292 trận và có biệt danh “King of Tokyo”).

10- Emerson ( Consadola Sapporo 2000; Kawasaki Frontale 2001,  Urawa Reds 2001 – 2005; 152 trận/121 bàn).

Đăng Khoa

Đón xem kỳ 5: Thời bĩ cực của J-League


Một Thế Giới