Hỏi - Đáp

Quyết định 1600/QĐ-TTg: Cơ hội để ĐBSCL xây dựng nguồn nhân lực công nghệ chiến lược

Văn Kim Khanh 25/08/2026 06:50

Học bổng toàn phần mở thêm cơ hội đào tạo nhân lực chất lượng cao, kết nối tri thức quốc tế với nhu cầu phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 18/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chương trình học bổng toàn phần dành cho các nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới về các công nghệ chiến lược”. Xung quanh cơ hội mà chính sách này mở ra đối với các trường đại học và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phóng viên Một Thế Giới đã trao đổi với TS. Lương Vinh Quốc Danh, Giảng viên cao cấp, Trưởng Khoa Điện tử - Viễn thông, Trường Bách Khoa, Đại học Cần Thơ (ĐHCT), dưới góc nhìn chuyên môn của một nhà giáo, nhà khoa học đang công tác tại vùng ĐBSCL.

24. 8 luong vinhquocdanh
TS. Lương Vinh Quốc Danh, Trưởng Khoa Điện tử - Viễn thông, Trường Bách Khoa, Đại học Cần Thơ. Ảnh: L.V

- Thưa TS. Lương Vinh Quốc Danh, ông nhìn nhận điểm nhấn quan trọng nhất của Quyết định 1600/QĐ-TTg lần này là gì?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Theo tôi, điểm đáng chú ý nhất không chỉ nằm ở quy mô của chương trình học bổng mà ở cách tiếp cận phát triển nguồn nhân lực công nghệ chiến lược tương đối toàn diện.

Đến hết năm 2035, Đề án đặt mục tiêu tuyển chọn và cấp học bổng toàn phần cho 1.500 người học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, trong đó dự kiến có 100 người trình độ đại học, 400 người trình độ thạc sĩ, 500 người trình độ tiến sĩ và 500 người thực hiện nghiên cứu sau tiến sĩ. Số lượng ở từng trình độ có thể được điều chỉnh tùy nhu cầu thực tế và khả năng cân đối nguồn lực.

Điều quan trọng hơn các con số là Đề án không xem việc đưa người giỏi đi đào tạo ở nước ngoài như một hoạt động riêng lẻ. Việc đào tạo, nghiên cứu được yêu cầu gắn với nhu cầu nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, với cơ quan dự kiến tiếp nhận, phương án sử dụng sau đào tạo và trách nhiệm đóng góp của người được cấp học bổng.

Như vậy, cùng với đầu tư cho cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu, Nhà nước đang tăng cường một trụ cột đặc biệt quan trọng là con người. Muốn làm chủ công nghệ, cuối cùng vẫn phải có những con người đủ năng lực nghiên cứu, phát triển, tiếp nhận, chuyển giao và đưa công nghệ vào thực tiễn.

DHCT 3ĐHCT và Đại học Công nghệ Sydney ký kết gia hạn thỏa thuận mô hình liên kết đào tạo tiến sĩ
ĐHCT và Đại học Công nghệ Sydney kí kết gia hạn thỏa thuận mô hình liên kết đào tạo tiến sĩ. Ảnh: Đ.H.C.T

- Theo ông, việc Quyết định tập trung vào các công nghệ chiến lược có ý nghĩa như thế nào đối với các trường đại học?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Theo tôi, đây là điểm các trường đại học cần đặc biệt quan tâm. Chương trình không phải là một học bổng du học chung cho mọi ngành nghề, mà tập trung vào các ngành, lĩnh vực trực tiếp hoặc phục vụ phát triển công nghệ chiến lược theo định hướng của Chính phủ.

Từ góc nhìn đó, tôi cho rằng mỗi trường cần xác định rõ thế mạnh học thuật, năng lực nghiên cứu và những lĩnh vực mình có thể đóng góp. Các công nghệ chiến lược hiện nay trải rộng từ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, mạng thế hệ mới, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, vật liệu và năng lượng tiên tiến, chip bán dẫn, an ninh mạng đến nhiều lĩnh vực công nghệ mới khác.

Theo tôi, các trường nên lựa chọn những hướng phù hợp với thế mạnh của mình, nhu cầu phát triển của đất nước và các bài toán thực tiễn mà mình có khả năng giải quyết. Đây cũng là cơ hội thúc đẩy cách tiếp cận liên ngành, bởi nhiều vấn đề lớn hiện nay không thể được giải quyết chỉ bằng một ngành công nghệ đơn lẻ.

- Từ góc nhìn của ông, Quyết định 1600/QĐ-TTg có thể mở ra những cơ hội nào đối với Đại học Cần Thơ?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Từ góc nhìn của tôi, Đại học Cần Thơ là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, có vai trò quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho ĐBSCL. Với vị trí và nền tảng đó, tôi cho rằng cơ hội từ chương trình này không chỉ nằm ở số người của Đại học Cần Thơ có thể được lựa chọn đi đào tạo, mà rộng hơn còn có thể góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của cả vùng.

Theo tôi, đối với các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có Đại học Cần Thơ, một hướng cần quan tâm là chủ động phát hiện, bồi dưỡng và hỗ trợ những sinh viên xuất sắc, giảng viên trẻ, viên chức và người lao động có tiềm năng để họ có đủ năng lực tham gia quá trình tuyển chọn cạnh tranh. Đồng thời, mỗi cơ sở cũng có thể rà soát nhu cầu phát triển đội ngũ trong từng lĩnh vực để có sự chuẩn bị phù hợp, bởi Đề án gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực sau khi hoàn thành chương trình.

Một giá trị rất quan trọng khác, theo tôi, là mạng lưới quốc tế. Từ những gì tôi quan sát được trong quá trình công tác tại Đại học Cần Thơ, nhiều giảng viên, viên chức và người lao động sau khi được cử đi đào tạo ở nước ngoài và trở về đã tiếp tục duy trì quan hệ với giáo sư, nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, viện, trường và các tổ chức tại nơi mình từng học tập. Họ không chỉ mang về bằng cấp hay kiến thức chuyên môn mà còn có thể trở thành những cầu nối, có thể xem như những “đại sứ”, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Đại học Cần Thơ với các đối tác quốc tế. Những mối quan hệ đó có thể phát triển thành hợp tác đào tạo, nghiên cứu, trao đổi giảng viên - sinh viên, dự án quốc tế, kết nối với doanh nghiệp và nhiều hình thức hợp tác khác. Ở phạm vi rộng hơn, các kết nối được hình thành và duy trì từ chính những con người này cũng có thể góp phần tăng cường sự hiểu biết, gắn kết và hợp tác giữa Việt Nam với quốc gia nơi họ từng học tập, nghiên cứu.

Từ kinh nghiệm đó, tôi cho rằng giá trị của một chương trình đào tạo ở nước ngoài không chỉ là đào tạo thêm một cá nhân có trình độ, năng lực chuyên môn cao. Nếu được tổ chức và phát huy tốt, mỗi người được đào tạo còn có thể mang về tri thức, kinh nghiệm và một mạng lưới hợp tác quốc tế, từ đó tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn cho cơ sở nơi họ công tác và cho vùng.

giai phap 1
Sinh viên ĐHCT nguồn nhân lực trẻ về công nghệ trong tương lai. Ảnh: Văn Kim Khanh

- Ở góc độ rộng hơn, theo ông, chương trình này có ý nghĩa như thế nào đối với ĐBSCL?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Tôi cho rằng đây là một cơ hội rất đáng quan tâm đối với ĐBSCL - một vùng có hơn 17 triệu dân và đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mô hình phát triển. Theo quan điểm của tôi, muốn nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, vùng không thể chỉ dựa vào lợi thế tài nguyên hay lao động, mà cần ngày càng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.

ĐBSCL có những bài toán rất đặc thù và đồng thời cũng là những bài toán lớn của quốc gia: nâng cao giá trị chuỗi nông nghiệp - thực phẩm và thủy sản; quản lý tài nguyên nước; bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển năng lượng; logistics; y tế; sản xuất thông minh; đô thị và kinh tế số. Nhiều công nghệ chiến lược có thể tạo ra những năng lực mới để giải quyết các bài toán này.

Nếu vùng chủ động xây dựng được đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có khả năng nắm bắt, làm chủ và triển khai các công nghệ chiến lược, thì đây không chỉ là nguồn lực quan trọng cho các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan nhà nước, mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh để thu hút doanh nghiệp công nghệ, các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như các dự án đầu tư có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao vào ĐBSCL.

Nhân lực tất nhiên không phải là điều kiện duy nhất quyết định đầu tư, nhưng là một điều kiện rất quan trọng. Khi nhà đầu tư thấy một vùng có sẵn đội ngũ kĩ sư, nhà khoa học và chuyên gia đủ khả năng tiếp nhận, vận hành, cải tiến và cùng phát triển công nghệ, sức hấp dẫn của môi trường đầu tư sẽ khác. Qua đó, vùng có thể tạo thêm việc làm chất lượng cao, hình thành các động lực tăng trưởng mới và giữ được nhiều hơn người trẻ có năng lực ở lại đóng góp cho địa phương.

- Theo ông, cơ hội này có thể tạo ra thay đổi gì đối với đội ngũ giảng viên và nhà khoa học trẻ ở ĐBSCL?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Theo tôi, trước hết chương trình tạo thêm một con đường để những người trẻ có năng lực tiếp cận các môi trường đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, đây cũng là chương trình có tính cạnh tranh cao.

Quyết định này quy định việc tuyển chọn được thực hiện cạnh tranh, công khai trên phạm vi toàn quốc. Việc đánh giá không chỉ dựa vào năng lực ứng viên mà còn xem xét sự cần thiết của ngành đào tạo, chất lượng cơ sở đào tạo, người hướng dẫn, kế hoạch học tập - nghiên cứu và khả năng đóng góp sau đào tạo, nghiên cứu.

Điều đó gửi một thông điệp khá rõ đến người trẻ: cần chuẩn bị sớm và chuẩn bị một cách toàn diện. Thành tích học tập là quan trọng, nhưng đối với những người theo con đường nghiên cứu còn cần xây dựng năng lực nghiên cứu, ngoại ngữ, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và từng bước hình thành một hướng chuyên môn có chiều sâu.

Mỗi trình độ, mỗi nhóm đối tượng có các yêu cầu khác nhau. Vì vậy, ứng viên cần theo dõi các hướng dẫn cụ thể khi chương trình được triển khai. Nhưng ngay từ bây giờ, việc đầu tư nghiêm túc cho năng lực chuyên môn, nghiên cứu và ngoại ngữ chắc chắn là sự chuẩn bị cần thiết.

- Nhưng để biến cơ hội thành kết quả thực tế, theo ông cần những điều kiện gì?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Theo tôi, phải nhìn chương trình theo một chuỗi liên tục: chọn đúng người, đào tạo đúng lĩnh vực, học tập và nghiên cứu ở đúng môi trường, sau đó sử dụng đúng người và tạo điều kiện để họ tiếp tục phát triển.

Quyết định dự kiến thực hiện việc tuyển chọn, cử người đi đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài từ năm 2027 đến năm 2035, sau khi hoàn thành đồng bộ các cơ chế về học bổng, tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn, danh mục cơ sở đào tạo, phương án sử dụng sau đào tạo, nghĩa vụ cống hiến, cơ chế bồi hoàn và các điều kiện bảo đảm nguồn lực.

Từ góc nhìn của tôi, điều đó có nghĩa là các trường đại học và địa phương nên có sự chuẩn bị sớm, thay vì chờ đến khi có thông báo tuyển chọn mới bắt đầu. Có thể xem xét xác định nhu cầu nhân lực trong 5 - 10 năm tới, xây dựng nguồn ứng viên tiềm năng, phát triển các hướng nghiên cứu và đồng thời chuẩn bị môi trường để tiếp nhận, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau đào tạo.

Tôi cho rằng một nhà khoa học trẻ có thể được đào tạo tại một trường đại học hoặc phòng thí nghiệm rất mạnh trên thế giới, nhưng khi trở về nếu không có nhóm nghiên cứu, thiết bị cần thiết, kinh phí nghiên cứu, dữ liệu, đối tác doanh nghiệp hoặc cơ chế làm việc phù hợp thì sẽ khó phát huy hết năng lực. Vì vậy, theo tôi, đào tạo con người và đầu tư cho hệ sinh thái nghiên cứu - đổi mới sáng tạo cần được thực hiện đồng bộ.

- Ông muốn gửi thông điệp gì đến sinh viên và các nhà khoa học trẻ ĐBSCL trước cơ hội này?

- TS. Lương Vinh Quốc Danh: Tôi nghĩ các bạn trẻ trước hết nên nhìn đây không chỉ là một cơ hội nhận học bổng để học tập ở nước ngoài, mà là cơ hội bước vào những môi trường học thuật và nghiên cứu quốc tế ở trình độ cao, từ đó chuẩn bị cho mình năng lực đóng góp lâu dài.

Cơ hội lớn luôn đi cùng yêu cầu cao. Người trẻ cần xác định mình muốn theo đuổi vấn đề gì, muốn làm chủ năng lực công nghệ nào và trong tương lai năng lực đó có thể tạo ra giá trị gì cho xã hội.

Theo tôi, ĐBSCL rất cần một thế hệ nhà khoa học, kĩ sư và chuyên gia vừa có khả năng tiếp cận tri thức, công nghệ tiên tiến của thế giới, vừa hiểu sâu những vấn đề và cơ hội phát triển của vùng. Khi hai yếu tố đó gặp nhau, những bài toán của địa phương có thể trở thành những bài toán nghiên cứu có giá trị quốc gia, thậm chí quốc tế.

Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của Quyết định 1600/QĐ-TTg vì vậy không chỉ nằm ở mục tiêu cấp học bổng cho 1.500 người. Nếu được triển khai tốt, chương trình có thể góp phần hình thành một lực lượng nhân lực công nghệ chiến lược có khả năng kết nối Việt Nam với các trung tâm khoa học - công nghệ hàng đầu thế giới, đồng thời đưa tri thức, công nghệ và mạng lưới quốc tế đó trở lại phục vụ sự phát triển của đất nước.

Từ góc nhìn đó, tôi cho rằng đối với ĐBSCL, đây không chỉ là cơ hội để những người trẻ xuất sắc tiếp cận các trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới, mà còn có thể là cơ hội để vùng từng bước xây dựng lực lượng nhân lực có khả năng làm chủ các công nghệ chiến lược, mở rộng mạng lưới khoa học - công nghệ quốc tế và tạo thêm một nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.

- Xin cảm ơn TS. Lương Vinh Quốc Danh!

Nổi bật
      Mới nhất
      Quyết định 1600/QĐ-TTg: Cơ hội để ĐBSCL xây dựng nguồn nhân lực công nghệ chiến lược
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO