Sầu riêng xuất khẩu vướng kiểm nghiệm, giải pháp nào tháo gỡ?
Khâu kiểm nghiệm trở thành điểm nghẽn khiến giá sầu riêng biến động, chuỗi cung ứng gặp khó, đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ sản xuất đến xuất khẩu.
Kiểm nghiệm “tắc nghẽn”, giá sầu riêng lao dốc theo dây chuyền
Khi “giấy thông hành” xuất khẩu bị tắc, dẫn đến toàn bộ chuỗi giá trị từ thương lái, hợp tác xã đến doanh nghiệp rơi vào thế bị động. Điều này kéo theo giá cả biến động mạnh theo hướng giảm. Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện là vùng trọng điểm sản xuất sầu riêng của cả nước, với quy mô ngày càng mở rộng. Riêng Đồng Tháp – địa phương có truyền thống canh tác lâu đời – đã phát triển hơn 32.100 ha, sản lượng đạt trên 557.000 tấn mỗi năm. Tính chung cả nước, diện tích sầu riêng đã vượt 150.000 ha, sản lượng ước khoảng 2 triệu tấn, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu rau quả; chỉ trong ba tháng đầu năm đã đạt hơn 1,5 tỉ USD.

Ông Trần Thanh Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – Sở Nông nghiệp & Môi Trường (NN&MT) tỉnh Đồng Tháp, cho biết: Cả nước hiện chỉ có 13 cơ sở kiểm nghiệm Cadimi và 17 cơ sở kiểm nghiệm Vàng O được phía Trung Quốc phê duyệt. “Riêng Đồng Tháp, có 4 đơn vị đã hoàn tất hồ sơ nhưng vẫn đang chờ công nhận”, ông nói. Không chỉ thiếu về số lượng, rủi ro trong hoạt động kiểm nghiệm cũng khiến hệ thống này trở nên “co cụm”. Nếu lô hàng đã được cấp chứng nhận nhưng phía nhập khẩu tái kiểm không đạt, doanh nghiệp có thể bị thu hồi mã số đóng gói, đồng thời phòng kiểm nghiệm cũng chịu liên đới. Chính tâm lý e ngại này khiến các đơn vị kiểm nghiệm càng thận trọng, dẫn đến tình trạng quá tải, chậm trễ.
Hệ quả là thị trường phản ứng gần như ngay lập tức. Chỉ cần một thông tin bất lợi từ khâu kiểm nghiệm, giá sầu riêng có thể lao dốc. Thực tế, có thời điểm giống RI6 giảm gần 20.000 đồng/kg chỉ trong một ngày. Doanh nghiệp mất hàng trăm triệu đồng, còn nông dân rơi vào cảnh bị ép giá hoặc khó tiêu thụ.

Doanh nghiệp “chờ đợi”, chuỗi cung ứng bị nghẽn
Tình trạng thiếu hụt cơ sở kiểm nghiệm không chỉ khiến giá giảm mà còn làm gián đoạn toàn bộ chuỗi cung ứng. Nhiều doanh nghiệp phải mất từ 2 đến 7 ngày chỉ để chờ xếp lịch kiểm tra mẫu. Trong khi hàng hóa tươi không thể chờ đợi lâu. Việc thu mua vì thế cũng bị trì hoãn, gây tâm lý dè chừng trên toàn thị trường. Ở cấp độ doanh nghiệp, rủi ro là rất lớn. Một lô hàng bị cảnh báo hoặc không đạt tiêu chuẩn có thể khiến doanh nghiệp mất từ 6 đến 12 tháng để khôi phục mã số đóng gói.
Điều này khiến nhiều đơn vị đứng trước lựa chọn khó khăn: tiếp tục thu mua trong rủi ro hay tạm dừng để bảo toàn giấy phép. Khi doanh nghiệp “đứng ngoài”, người chịu thiệt đầu tiên chính là nông dân. Tại Đồng Tháp, trong số 111 cơ sở đóng gói sầu riêng, có đến 80 cơ sở phải tạm dừng hoạt động do liên quan đến chỉ tiêu Cadimi và Vàng O. Đây là con số cho thấy mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của khâu kiểm nghiệm đến toàn ngành hàng.
Không chỉ doanh nghiệp, các hợp tác xã cũng chịu tác động nặng nề. Có trường hợp hàng hóa phải nằm chờ đến 15 ngày mới hoàn tất kiểm nghiệm, làm giảm chất lượng, tăng nguy cơ bị trả hàng. Thậm chí, đã có thời điểm hàng trăm container ùn ứ, không thể xuất khẩu chỉ vì “kẹt” ở khâu kiểm tra.
Trong khi đó, ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội sầu riêng Đồng Tháp, cho biết đã có những thời điểm ùn ứ hàng trăm container không thể xuất khẩu chỉ vì tắc khâu kiểm nghiệm. Ở cấp độ hợp tác xã, ông Trần Hữu Toàn, Giám đốc Hợp tác xã sầu riêng Ngũ Hiệp, cho biết hàng hóa có khi phải nằm chờ đến 15 ngày, làm suy giảm chất lượng và tăng nguy cơ bị trả hàng.

Gỡ “nút thắt” kiểm nghiệm, hướng đến chuỗi sản xuất bền vững
Trước thực trạng trên, yêu cầu đặt ra là phải tháo gỡ “điểm nghẽn” kiểm nghiệm bằng các giải pháp đồng bộ, từ ngắn hạn đến dài hạn. Trước mắt, cần tăng nhanh số lượng cơ sở kiểm nghiệm đạt chuẩn được phía nhập khẩu công nhận. Việc hỗ trợ các đơn vị hoàn thiện hồ sơ, rút ngắn thời gian phê duyệt sẽ giúp giảm tải áp lực cho hệ thống hiện tại.
Song song đó, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa doanh nghiệp và phòng kiểm nghiệm. Nếu không giải tỏa tâm lý e ngại, các đơn vị kiểm nghiệm sẽ tiếp tục hạn chế hoạt động, khiến “nút thắt” ngày càng siết chặt. Việc xây dựng quy trình minh bạch, rõ trách nhiệm từng khâu sẽ giúp các bên yên tâm hơn khi tham gia chuỗi. Về lâu dài, ngành sầu riêng cần chuyển từ kiểm soát “phần ngọn” sang kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất.
Điều này có nghĩa là không đợi đến khi có sản phẩm mới kiểm nghiệm mà phải quản lý từ đất trồng, nguồn nước, phân bón đến quy trình canh tác. Khi chất lượng đầu vào được đảm bảo, áp lực kiểm nghiệm đầu ra sẽ giảm đáng kể. Việc hoàn thiện quy trình xử lý các vấn đề như nhiễm Cadimi cũng là yêu cầu cấp bách. Hiện nay, nông dân vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể để khắc phục, dẫn đến tâm lý hoang mang và sản xuất thiếu định hướng.
Đáng chú ý, chương trình truy xuất nguồn gốc đang mở ra hướng đi bền vững. Khi toàn bộ quy trình sản xuất được kiểm soát và minh bạch, sản phẩm có thể được đưa vào “luồng xanh” khi xuất khẩu, giúp rút ngắn thời gian thông quan. Thực tế, những lô hàng thí điểm đầu tiên đã cho thấy hiệu quả rõ rệt, mở ra kỳ vọng nhân rộng trong thời gian tới. Ở góc độ kỹ thuật, ông Trần Minh Châu, Phó giám đốc kỹ thuật Công ty TNHH Giám định Vinacontrol TP.HCM, cam kết đơn vị sẽ linh hoạt hơn trong việc lấy mẫu để hỗ trợ doanh nghiệp.
Chương trình truy xuất nguồn gốc do Bộ NN&MT triển khai là hướng đi căn cơ, khi toàn bộ quy trình từ đất, nước, canh tác đến thu hoạch được kiểm soát; sản phẩm xuất khẩu được phía Trung Quốc đưa vào “luồng xanh”, giúp thông quan nhanh hơn. “Thực tế, hai container sầu riêng thí điểm đã được xuất khẩu theo cơ chế này vào ngày 10/4 vừa qua”, ông Trần Minh Châu dẫn chứng.