Thời sự

Siêu đô thị TP.HCM trước bài toán chống ngập - Bài 1: 'Bản đồ' ngập lụt sinh thái

Hoàng Bắc • 20/09/2026 16:00

Tiến trình sáp nhập địa giới hành chính mở ra một không gian phát triển rộng lớn cho TP.HCM, nhưng đồng thời cũng đặt đô thị này trước một bài toán ngập lụt có quy mô và tính chất phức tạp hơn. Từ những tuyến đường thấp trũng, khu dân cư ven sông đến các vùng chịu tác động của mưa lớn, triều cường và xả lũ, ngập nước đang hiện diện dưới nhiều hình thái khác nhau.

Lời toà soạn: TP.HCM đang trong cao điểm mùa mưa, cũng là thời điểm những điểm ngập quen thuộc lại trở thành nỗi lo thường trực của người dân sau mỗi trận mưa lớn. Nhưng trong không gian một siêu đô thị đang mở rộng, ngập lụt không còn là câu chuyện của vài tuyến đường hay một khu vực riêng lẻ, mà xuất hiện dưới nhiều hình thái, gắn với mưa lớn, triều cường, địa hình, sông ngòi, hạ tầng và quá trình đô thị hóa. Từ những khảo sát thực tế và nghiên cứu về ngập lụt, loạt bài đặt vấn đề về cách TP.HCM chuyển từ tư duy xử lí từng điểm ngập sang quản lí rủi ro theo không gian, lưu vực và khả năng thích ứng lâu dài.

img_08031.jpeg
Siêu đô thị TP.HCM liên tục xảy ra ngập nặng sau mưa lớn nhưng việc giải bài toán chống ngập là điều cấp bách, để đưa đô thị phát triển và ngày càng văn minh, sạch đẹp, hiện đại. Ảnh: Hoàng Bắc

Từ một đô thị lớn đến không gian siêu đô thị

Khái niệm siêu đô thị (megacity) được các quốc gia và tổ chức quốc tế xác định chủ yếu dựa trên quy mô dân số. Theo tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc, các đô thị có dân số từ 4 triệu người trở lên được xếp vào nhóm “thành phố siêu hạng” (super city), trong khi những đô thị có dân số vượt 8 triệu người được gọi là “siêu đô thị” (megacity).

Trên thế giới, những đô thị như Tokyo, Jakarta, Mumbai, Delhi, Metro Manila, New York, São Paulo hay Seoul–Incheon đang hình thành những không gian đô thị có quy mô dân số và hạ tầng đặc biệt lớn. Tokyo hiện có trên 35 triệu người trong vùng đô thị.

Tại Việt Nam, ý tưởng phát triển TP.HCM theo hướng một không gian đô thị liên kết vùng đã được đặt ra từ nhiều năm trước. Năm 2008, Bộ Xây dựng từng đề xuất định hướng quy hoạch phát triển vùng TP.HCM đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050.

img_08011.png
Xe cộ bì bõm trong mưa, đường xá chìm trong biển nước, giao thông tắc nghẽn. Ảnh: Hoàng Bắc

Bước ngoặt diễn ra vào tháng 7/2025, khi TP.HCM được mở rộng trên cơ sở sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Thành phố mới có diện tích khoảng 6.772 km², hình thành một không gian liên kết rộng lớn về dân cư, kinh tế, công nghiệp, cảng biển, giao thông và hạ tầng kỹ thuật.

Cùng với quá trình phát triển siêu đô thị, mở rộng lãnh thổ và không gian khu vực, TP.HCM một mặt gia tăng số lượng dân số, phát triển cơ sở hạ tầng. Đồng thời đối mặt với những vấn đề như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nhà ở, thiếu hụt chỗ đậu xe cũng như thiếu các hệ thống thu gom và xử lí nước thải tập trung.

TP. HCM hiện đang đối mặt với tình trạng ngập lụt ngày càng nghiêm trọng dưới tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh và quá tải hạ tầng kỹ thuật đô thị. Bên cạnh nguy cơ ngập lụt gia tăng, vùng đại đô thị TP.HCM cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lí rủi ro ngập lụt do sự mở rộng không gian đô thị và gia tăng dân số sau quá trình sáp nhập.

img_08013.png
Tình trạng ngập nước thường xuyên xảy ra, cứ mưa là ngập nặng. Ảnh: Hoàng Bắc

Trong khi trước đây công tác quản lí đô thị chủ yếu giới hạn trong phạm vi hành chính và quy mô dân cư nhỏ hơn, thì hiện nay mô hình quản trị hiện hữu chưa theo kịp tốc độ phát triển của vùng siêu đô thị. Đặc biệt, việc xây dựng cơ chế quản lí rủi ro ngập lụt mang tính liên kết vùng và thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn còn nhiều thách thức.

Trong nghiên cứu “Sự ứng phó với ngập lụt của các nhóm dân cư TP.HCM”, TS. Bùi Thị Minh Hà, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn cho rằng, trong số đó, ngập lụt là một bài toán đặc biệt phức tạp bởi không xuất phát từ một nguyên nhân duy nhất. Biến đổi khí hậu, bê tông hóa bề mặt, sụt lún nền đất, mưa cực đoan, triều cường, đặc điểm địa hình và khả năng tiêu thoát nước có thể cùng tác động lên một khu vực.

Vì vậy, bản đồ ngập của TP.HCM không đơn giản là những điểm thấp thường xuyên bị nước bao phủ. Đằng sau mỗi điểm ngập là một tổ hợp nguyên nhân khác nhau.

1001 kiểu ngập lụt ở siêu đô thị TP.HCM

TS. Bùi Thị Minh Hà đã khảo sát tình trạng ngập tại nhiều khu vực của TP.HCM qua các giai đoạn khác nhau. Một trong những khảo sát được thực hiện phối hợp với Viện Thủy lợi Miền Nam trên 872 hộ gia đình tại các điểm ngập sâu của thành phố vào năm 2016. Kết quả cho thấy, ngay trong cùng một đô thị, nguyên nhân gây ngập đã có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực.

dsc03323.jpg
Cảnh người, xe "đánh vật" với nước lũ không mấy xa lạ tại TP.HCM và đây cũng là vấn đề nan gian gây nhức nhối dư luận trong nhiều năm nay. Ảnh: Hoàng Bắc

Tại Quận 11 (cũ), 152 hộ được khảo sát và 100% chịu ảnh hưởng của ngập do mưa lớn, không ghi nhận tác động của triều cường. Trong khi đó, ở Quận 6 (cũ), trong 153 hộ được khảo sát, có 35 hộ, tương đương 22,9%, ngập do mưa lớn; 118 hộ, chiếm 77,1%, chịu ngập do mưa kết hợp triều cường.

Sự khác biệt còn thể hiện rõ hơn tại Quận 8 (cũ). Trong 151 hộ được phỏng vấn, chỉ 6 hộ, tương đương 4%, ngập thuần túy do triều cường. Có 24 hộ, chiếm 15,9%, ngập do mưa lớn, trong khi 119 hộ, tương đương 78,8%, chịu tác động đồng thời của mưa và triều.

Tình trạng tương tự được ghi nhận tại Bình Thạnh (cũ). Trong 96 hộ nằm trong vùng phơi nhiễm, 19 hộ, chiếm 19,8%, ngập do mưa; 77 hộ, tương đương 80,2%, ngập do mưa kết hợp triều cường. Tại Quận Thủ Đức (cũ), khảo sát 191 hộ cho thấy 5 hộ, chiếm 2,6%, ngập do triều cường; 62 hộ, tương đương 32,5%, ngập do mưa lớn và 124 hộ, chiếm 64,9%, chịu tác động của cả mưa lẫn triều.

img_08017.jpg
Xe cộ chết máy, bị cuốn trôi ngay trên đường giữa trời mưa, ngập lớn. Ảnh: Hoàng Bắc

Những con số trên cho thấy một điểm chung: ngập tại TP.HCM không diễn ra theo một cơ chế duy nhất. Có nơi mưa lớn là tác nhân chính, có nơi triều cường đóng vai trò quyết định, nhưng cũng có những khu vực chịu tác động đồng thời của cả hai yếu tố.

Sự khác biệt này gắn chặt với điều kiện địa hình. Quận 6, Quận 8 và Bình Thạnh (cũ) có nhiều khu vực trũng thấp, cao độ trung bình chỉ khoảng 0,9 - 1,3 m. Ở những nơi này, khi triều lên, nước có thể đi vào khu dân cư qua nhiều hướng, trong đó có cả những tuyến đường dân lập, làm gia tăng khả năng ngập tại các khu vực có cao độ nền thấp.

Nếu khảo sát năm 2016 cho thấy sự khác nhau về nguồn gây ngập, thì những dữ liệu tiếp theo của TS. Bùi Thị Minh Hà cho thấy sự khác biệt đó tiếp tục thể hiện rõ trong mức độ ảnh hưởng đến đời sống dân cư.

img_09021.jpg
Nước tràn vào nhà dân mỗi khi mưa lớn, người dân rất vất vả khi phải thường xuyên lau dọn bùn đẩt. Ảnh: Hoàng Bắc

Đến năm 2022, khảo sát 250 hộ dân tại các điểm ngập ven kênh rạch, sông ngòi và khu vực giáp ranh khu công nghiệp cho thấy 29,2% hộ cho biết tình trạng ngập tăng lên so với 5 năm trước. Có 20,8% cho rằng tình trạng ngập “vẫn vậy”, trong khi 28% nhận định ngập giảm và 8,4% cho rằng khu vực của mình đã hết ngập.

Nhìn từ không gian sinh hoạt hằng ngày, mức độ tác động của ngập cũng không giống nhau. Trong 5 năm được khảo sát, 47,2% hộ cho biết nước từng tràn qua cửa vào trong nhà. Trong đó, 14% bị ngập thường xuyên vào mùa mưa hoặc khi triều dâng, còn 20% thỉnh thoảng bị ngập.

Đường trước nhà cũng chịu ảnh hưởng đáng kể: chỉ 4,8% số hộ cho biết không bị ngập; 31,6% bị ngập thường xuyên và 40,8% thỉnh thoảng bị ngập. Đối với các tuyến đường lớn gần nhà, tỷ lệ hộ không bị ngập là 0%. Có 33,2% bị ngập thường xuyên và 41,6% thỉnh thoảng bị ngập.

Từ nhà ra đường rồi đến các tuyến giao thông lớn, các số liệu này cho thấy ngập tạo thành một chuỗi tác động liên kết trong không gian đô thị. Nước không chỉ ảnh hưởng đến một căn nhà mà còn có thể làm gián đoạn việc đi lại, khả năng tiếp cận khu dân cư và kết nối với những khu vực khác.

Giải bài toán ngập lụt cho siêu đô thị TP.HCM, cách nào ?

Khi đặt các số liệu về mức độ ảnh hưởng này cạnh khảo sát theo từng địa bàn, sự đa dạng của các hình thái ngập càng rõ hơn. Nghiên cứu của TS. Bùi Thị Minh Hà cho thấy mỗi khu vực có thể hình thành một “kiểu” ngập khác nhau, tùy thuộc vào địa hình, nguồn nước và khả năng tiêu thoát.

img_09016.jpg
Ngoài mưa lớn, triều cường dâng cũng gây ngập đối với các hộ dân ở vùng trũng. Ảnh: Hoàng Bắc

Ở phía Đông thành phố, các điểm ngập như đường Dương Văn Cam, Đặng Thị Rành có kiểu ngập liên quan đến xả lũ kết hợp địa hình dốc. Nước từ khu vực cao đổ xuống những vùng trũng thấp cuối dốc. Trong khi đó, trục Huỳnh Tấn Phát, khu vực Quận 7 (cũ), lại mang đặc trưng ngập do triều cường khi nằm ven sông.

Tuyến Ung Văn Khiêm, khu vực Bình Thạnh (cũ), là dạng ngập do mưa kết hợp triều cường. Còn khu vực Hiệp Bình Chánh có đặc trưng ngập do mưa và khả năng tiêu thoát nước hạn chế.

img_09032.jpg
Người dân kê đồ đạc lên ghế cao để khỏi bị ẩm ướt, hư hỏng. Ảnh: Hoàng Bắc

Như vậy, từ những điểm ngập cụ thể đến bức tranh rộng hơn của đô thị, các khảo sát đều cho thấy rủi ro ngập được tạo nên bởi sự tương tác giữa nhiều yếu tố: lượng mưa, triều cường, địa hình, dòng chảy và khả năng tiêu thoát nước. Chính vì vậy, cùng là ngập nhưng nguyên nhân, mức độ và cách thức tác động đến cộng đồng dân cư có thể rất khác nhau.

Từ kết quả khảo sát, TS. Bùi Thị Minh Hà cho rằng bản đồ ngập của TP.HCM cần được nhìn theo từng vùng địa lí, từng nhóm dân cư và từng cơ chế gây ngập, thay vì xem toàn bộ đô thị như một không gian có cùng một dạng rủi ro.

“Tương ứng với các đặc điểm địa lí, khu vực khác nhau, kiểu nhóm dân cư khác nhau thì có những kiểu hình ngập lụt khác nhau – dẫn tới việc cần có cách thức quản trị rủi ro ngập lụt khác nhau, tương ứng với kiểu loại ngập từng khu vực”, TS. Bùi Thị Minh Hà nhấn mạnh.

Nổi bật
      Mới nhất
      Siêu đô thị TP.HCM trước bài toán chống ngập - Bài 1: 'Bản đồ' ngập lụt sinh thái
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO