Văn hóa

Tản văn của Nguyễn Bảo Chân: Nụ cười dịu nắng

Nguyễn Bảo Chân 26/06/2026 14:37

"Tôi đã sống tận cùng mọi buồn vui, đã qua những đại đương, những châu lục, đã trải nghiệm, đã học hỏi không ngừng, như lời bố dặn" - Nguyễn Bảo Chân.

Năm cuối PTTH, tôi chuyển đến ở với bố một thời gian. Căn phòng nằm trên tầng năm khu tập thể Phương Mai được ngăn đôi bằng tấm đan nứa mỏng manh, chia cho hai gia đình. Nhà hẹp, kê vừa một giường đôi sát cửa sổ, cạnh giường là va-li, hòm xiểng. Khoảng không gian còn lại được ngăn với giường bằng tấm ri-đô, là nơi cả nhà sinh hoạt chung; nơi buổi tối tôi trải cái chiếu đơn nằm ngủ; nơi bố ngồi viết…

Sách vở của bố xếp chồng lên nhau, chất ngất trên giá áp vào mảng tường đối diện bàn viết. Bàn thực ra là tấm gỗ dán tự chế, có bản lề gá vào vách nứa, khi cần mở ra, chống lên bằng hai thanh gỗ nhỏ, xong lại gập xuống gọn gàng. Tiểu thuyết “Một đời yêu” và không ít vở kịch đã được bố viết trên cái bàn “dã chiến” ấy. Nó cũng trở thành bàn học của tôi. Tôi hay gại gại ngòi bút vào góc bàn mỗi khi bút tắc mực. Thấy thế, bố bảo đưa đây bố chữa cho. Bố có “tài” chữa bút. Các kiểu ngòi bút gai, toẽ, gẫy, tắc mực, bố chữa khỏi hết, chỉ với lưỡi dao lam và cái tăm vót nhọn. Ngòi nào ngòi nấy qua tay bố sửa, lại êm ru, nét thanh nét đậm rõ ràng, viết chữ đẹp hơn hẳn.

Thuở ấy ai cũng nghèo, có khi chưa hết tháng đã hết gạo. Hàng xóm cắp rá sang vay của nhau. Nhà nọ cưu mang nhà kia đôi ba bữa, thấp thỏm chờ đến kỳ lương, kỳ phiếu mới. Bữa ăn thường đạm bạc, rau là chính. Cô Lộc, người vợ sau của bố là cán bộ một viện thiết kế. Cơ quan rất xa nhà, cô phải đạp xe cả tiếng đồng hồ, chiều về đón em Ti hơn hai tuổi ở nhà trẻ, rồi tạt qua chợ mua thức ăn cho bữa tối và sáng mai. Sau này cô kể, lần nào ra chợ cô cũng tần ngần do dự, tính toán ngược xuôi sao cho chồng con được bữa ăn tươi. Mà tươi cũng chỉ là lạng thịt cho em Ti; mớ cá diếc nhỏ kho khế với tương, cả nhà ăn dè vài bữa.

Nha tho nguyen bao Chan
Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân.

Thời ấy, học sinh chỉ được đăng ký thi một trường đại học. Ban đầu, tôi muốn thi khoa Văn, Đại học Tổng hợp. Tôi vào luyện thi trong Thanh Xuân được vài tháng, thì một hôm bố thông báo: “Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh năm nay tuyển sinh biên kịch điện ảnh chính quy dài hạn đấy. Bố nghĩ, nghề sáng tác sẽ phù hợp với Na. Con lại thích phim ảnh, nếu được nhập học, con tha hồ xem phim!”. Tôi bùi tai, đồng ý luôn. Thế là bố đến trường Đại học Tổng hợp, rút hồ sơ của tôi, nộp sang trường Điện ảnh chỉ trước kỳ thi hơn một tháng. Ngoài ba môn khối C: văn, sử, địa, tôi sẽ phải thi hai buổi chuyên môn: viết và vấn đáp. Tôi đã có thơ, truyện ngắn đăng báo rải rác vài năm. Bố kẹp thêm những tờ báo đó vào hồ sơ. Bố công tác ở báo Người Hà Nội. Công việc biên tập bận rộn, nhưng bố xin nghỉ một hôm, đưa tôi đi thi. Bác Tô Hoài hồi đó là Tổng biên tập, đồng ý ngay. Tôi từng may mắn được bác Tô Hoài đọc bản thảo thơ, và một truyện ngắn đầu tay tôi viết năm mười lăm tuổi. Câu chuyện tình yêu trong chiến tranh, tôi bịa ra, bây giờ nghĩ lại thấy nó thật ngô nghê. Bố kể, bác Tô Hoài nhận xét thế này: “Con bé giàu trí tưởng tượng. Thơ nó được. Nó có văn, nhưng Biên khuyên cháu, nếu viết văn xuôi, trước hết nên viết về những điều gần gũi quanh mình”.

Theo quy định rất “oái oăm” thời ấy, chỉ các anh chị thí sinh từng đi làm rồi mới đủ tiêu chuẩn thi biên kịch; còn học sinh phổ thông, dù đã đăng ký biên kịch vẫn phải chuyển sang thi lý luận phê bình điện ảnh. Ngày thi chuyên môn sẽ kéo dài sáu tiếng, sáng sang chiều, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, nên thí sinh sẽ phải mang cơm theo, nghỉ ăn trưa ngay tại phòng thi. Chiều hôm trước, bố ngâm đậu xanh, gạo nếp để sáng sớm nấu xôi. Theo bố, tôi ăn xôi đỗ ắt sẽ đỗ! Cô Lộc cũng để dành thức ăn cho tôi mai mang vào trường. Sớm tinh mơ, tôi nghe tiếng bố trở dậy, nhón chân xuống bếp. Một lát sau đã mùi nếp xôi thơm lựng. Rồi bố vào, lay vai tôi, gọi khẽ: “Na ơi, Na! Dậy thôi con, dậy đánh răng rửa mặt, ăn sáng rồi đi thi!”.

Chắc do lo lắng hồi hộp mà tự nhiên tôi đau bụng âm ỉ, không muốn ăn uống gì. Bố đơm xôi vào cái ca nhôm, nhưng không kèm thức ăn, mà vùi giữa xôi một lọ thuỷ tinh tí xíu đựng chút nước mắm tiêu. Bố bảo: “Bố con mình đạp thẳng đến trường không muộn. Sau bố sẽ ra chợ Xanh mua khoanh giò lụa, trưa gửi vào phòng thi cho Na. Con ăn giò cho lành bụng”. Nói xong, bố băng băng phóng vù đi trước. Tôi vừa lên xe, thì đã thấy bố đang quành xe lại, cười rạng rỡ, nói to, giọng rổn rảng: “Chào con gái Na! Chúc con gái thi tốt nhé!”. Tôi bật cười khanh khách, thì ra bố “đón ngõ” tôi! Ra ngõ gặp bố, chắc chắn may rồi!

Hai bố con đạp xe song song suốt chặng đường dài. Vừa đi, bố vừa dặn dò tôi, cặn kẽ đủ điều. Sáng sớm mà đã nắng ong ả. Đường vào Cầu Giấy, Mai Dịch năm ấy người vắng, cây thưa. Loáng thoáng hai bên đường những ngôi nhà cũ kỹ xanh xao, những cánh đồng lúa tháng Sáu ngả vàng hanh hảnh lần lượt trôi về phía sau. Rồi khu Văn công Mai Dịch cũng hiện ra trước mắt. Khu giảng đường chính là ba khối nhà ba tầng, nối nhau thành hình chữ U, tường vôi màu be, những ô cửa màu nâu đỏ. Bố ôm vai tôi, động viên: “Na bình tĩnh, đọc kỹ đề bài, nghĩ đi nghĩ lại trước khi đặt bút viết, con nhé. Có bố ở ngoài này đến khi Na thi xong. Yên tâm, nhé!”.

Bố ra chợ Xanh mua khoanh giò lụa rất ngon, nhưng không thể gửi cho tôi. Hai bố con cứ nghĩ việc ấy đơn giản, ai ngờ lại khó. Người nhà không được phép gửi bất cứ thứ gì vào khu vực thi cử. Giờ nghỉ trưa, tôi bồn chồn ngóng qua cửa sổ tầng hai của giảng đường chính. Tôi thấy bố, áo sơ mi màu cỏ, dáng cao gầy, đứng giữa mảnh sân loá nắng. Tôi gọi rối rít: “Bố ơi, bố ơi!”. Bố vẫy vẫy tay, cười thật tươi. Bố có nụ cười hiền, hàm răng đẹp, đều tăm tắp. Nụ cười của bố khiến tôi yên lòng. Nụ cười ấy làm nắng hè dịu lại. Tôi giơ hai ngón tay cái lên, cho bố biết là tôi ổn. Các thí sinh tụ tập từng nhóm nhỏ, cùng ăn trưa. Một số bạn có bố mẹ làm trong ngành điện ảnh, quen biết nhau cả. Tôi lạ lẫm, ngại ngùng không nhập hội. Ngồi một góc, tôi lặng lẽ ăn xôi đỗ chấm xíu mắm tiêu, chỉ thế, mà càng ăn càng thấy ngọt.

Mười sáu tuổi rưỡi, tôi thi đỗ điểm cao vào khoa Lý luận Phê bình và Biên kịch Điện ảnh, Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội. Tôi cùng một số bạn khác được chọn vào lớp biên kịch, như nguyện vọng. Bố vui lắm, nhưng bố bảo: “Sáng tác là một nghề cực nhọc. Bố mong Na vững vàng, vì con sẽ phải sống bằng mấy những người làm nghề khác. Con sẽ phải đi nhiều, phải trải nghiệm, phải học hỏi suốt đời đấy!”. Bố dành một món nhuận bút nhỏ, thưởng cho tôi, đủ để tôi khao đứa bạn thân ăn kem Tràng Tiền, và mua một cuốn sách. Tôi đã chọn cuốn: “Ditte, con của người đời” của nhà văn Đan Mạch Martin Andersen Nexo. Cho đến bây giờ, đó vẫn là một trong những cuốn sách tôi yêu thích nhất.

Tôi không theo nghề kịch bản phim, mà viết báo, rồi làm truyền hình. Tôi cũng không viết truyện ngắn nữa. Tôi làm thơ suốt bấy nhiêu năm. Tôi đã sống tận cùng mọi buồn vui, đã qua những đại đương, những châu lục, đã trải nghiệm, đã học hỏi không ngừng, như lời bố dặn. Tôi cũng nếm không ít mùi vị nhân gian, nhưng luôn nhớ vị ngọt của bữa trưa bùi ngùi năm ấy. Bố đã đi xa. Đôi khi, trong những giấc mơ, tôi gặp lại bố. Bố vẫn mặc áo sơ mi màu cỏ, đứng giữa một vầng sáng ấm lành. Bố mỉm cười với tôi, nụ cười hiền, yên ủi.

Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân sinh năm 1969, là một trong những gương mặt thơ hiện đại, có tiếng nói riêng trên thi đàn Việt Nam. Thơ chị còn được bạn bè nước ngoài biết tới và yêu thích qua nhiều Liên hoan Thơ quốc tế bởi lối tư duy, cách viết mới mà vẫn phảng phất bóng dáng truyền thống, ngôn ngữ đẹp, độc đáo, trầm tích những tầng ý nghĩa.

Nổi bật
      Mới nhất
      Tản văn của Nguyễn Bảo Chân: Nụ cười dịu nắng
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO