Thừa nhận của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Luật Thuế GTGT 2024 vừa ban hành đã phải sửa đổi cấp bách, tạo tiền lệ hiếm gặp và đặt ra câu hỏi về sự đồng bộ chính sách cũng như khả năng phản ánh đúng thực trạng kinh tế.
Việc Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT tại Kỳ họp thứ 10 là động thái hành chính mang tính "giải cứu" kinh tế. Nguồn cơn của sự cấp bách này là sự tê liệt dòng tiền của hàng loạt doanh nghiệp xuất khẩu nông sản lớn, từ gạo, cà phê đến hạt điều.
Việc Luật quy định mới đã gây ra tình trạng vốn bị "giam lỏng" ước tính lên đến hàng nghìn tỉ đồng do vướng mắc trong hoàn thuế đầu vào. Vốn, bị phong tỏa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chịu chi phí lãi vay khổng lồ, làm giảm lợi nhuận, suy yếu khả năng tái đầu tư, và đe dọa trực tiếp đến vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Theo báo cáo, ước tính của các ngành hàng, chỉ riêng 6 tháng cuối năm 2025, doanh nghiệp sẽ phải nộp rồi chờ hoàn hàng nghìn tỉ đồng thuế GTGT. Cụ thể các doanh nghiệp ngành cà phê phải ứng ra khoảng 5.000 tỉ đồng, ngành lương thực khoảng 2.016 tỉ đồng và ngành hồ tiêu cùng cây gia vị khoảng 2.162 tỉ đồng để nộp thuế GTGT đầu vào. Các tổ chức tín dụng lại không giải ngân phần thuế này khi cấp vốn lưu động, gây áp lực tài chính cho doanh nghiệp.

Trước sự căng thẳng về dòng tiền và áp lực từ cộng đồng doanh nghiệp, lời thừa nhận từ cơ quan quản lý đã được đưa ra một cách thẳng thắn.
"Đầu tiên, phải nói rằng đối với Chính phủ và đặc biệt Bộ Tài chính là những người tham mưu để trình Quốc hội ban hành Luật Thuế GTGT (sửa đổi) nhưng mới đưa vào áp dụng được có mấy tháng đã phải trình lại Quốc hội để xem xét sửa đổi, đó là một điều mà bản thân chúng tôi thấy chưa làm tròn trách nhiệm...", Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng khi phát biểu tiếp thu và giải trình trước Quốc hội về dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT.
Đưa ra lý do tại sao lần này Bộ Tài chính tham mưu cho Chính phủ và Chính phủ cũng rất quyết tâm trình Quốc hội, theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng "là bởi trong quá trình khi luật bắt đầu có hiệu lực thi hành thì đúng là vướng mắc rất nhiều, rất lớn và từ các doanh nghiệp rất lớn của nhà nước cho đến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông sản...".
Thừa nhận này, dù là sự thể hiện tinh thần cầu thị cần thiết nhưng vẫn đặt ra vấn đề cần phân tích sâu sắc: Sự thiếu sót này xuất phát từ đâu? Là sự sai lệch trong nhận thức về chuỗi giá trị hay là lỗi cố hữu trong hệ thống lập pháp?
Mắc kẹt trong chuỗi giá trị
Bất cập cốt lõi nằm ở chính sách áp thuế GTGT đối với sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến ở khâu thương mại. Nền nông nghiệp Việt Nam mang tính chất đặc thù, dựa trên hàng triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, những người không phải là đối tượng kê khai thuế GTGT. Do đó, khi doanh nghiệp thu mua nông sản, họ không thể có hóa đơn thuế GTGT đầu vào để kê khai.
Quy định mới đã áp đặt một mô hình quản lý thuế theo chuẩn mực công nghiệp vào một lĩnh vực có cấu trúc giao dịch phi chính thức. Khi Luật quy định doanh nghiệp phải nộp thuế đầu ra (ở mức 5% hoặc 10%) nhưng lại cắt đứt khả năng khấu trừ/hoàn thuế đầu vào, khoản thuế này bị tính thẳng vào chi phí. Đối với hàng hóa xuất khẩu (áp thuế suất 0%), doanh nghiệp mất đi cơ sở để được hoàn thuế, khiến vốn bị chiếm dụng kéo dài.
Điều này đã tạo ra sự bất bình đẳng khi so sánh với nông sản nhập khẩu, vốn ít chịu ảnh hưởng bởi cơ chế khấu trừ phức tạp này, từ đó làm suy yếu khả năng cạnh tranh của hàng hóa nội địa.
"Quy định như hiện nay là vô lý và thực tế gây khó khăn, rủi ro cho doanh nghiệp vì người bán và người mua là hai chủ thể thuận mua, vừa bán, người mua không có quyền và trách nhiệm can thiệp vào hoạt động kinh doanh của người bán và trong thực tế người mua không có công cụ để kiểm tra và yêu cầu người bán thực hiện nghĩa vụ thuế của họ. Do đó, không phải chịu trách nhiệm về sự tuân thủ của người khác và chỉ nhận tiền của mình được hưởng khi người bán kê khai, nộp thuế, bởi trách nhiệm thu thuế là của cơ quan thuế", đại biểu Trần Hữu Hậu (Đoàn Tây Ninh phát biểu).
Lỗ hổng hệ thống - thất bại của RIA và phản biện
Sự cố Luật Thuế GTGT còn phơi bày lỗ hổng mang tính hệ thống. Vấn đề đặt ra là vai trò và chất lượng của khâu đánh giá tác động chính sách (Regulatory Impact Assessment - RIA). RIA được thiết lập nhằm dự báo và phân tích toàn diện hậu quả của các quy định mới trước khi chúng được ban hành.
Sự việc này chứng minh rằng quá trình RIA đã không hoạt động hiệu quả. Các hậu quả tiêu cực như vốn đọng hàng nghìn tỉ đồng là những rủi ro hoàn toàn có thể được dự báo nếu có sự tham vấn đủ sâu và phân tích dữ liệu đủ kỹ lưỡng từ các hiệp hội ngành hàng. Sự thiếu hụt này dẫn đến một tình trạng nguy hiểm: Luật được xây dựng trên cơ sở lý thuyết quản lý mà bỏ qua tính khả thi và bền vững trong thực tiễn.
Tại Báo cáo số 1760 của Ủy ban Kinh tế và Tài chính về thẩm tra dự án luật cũng đồng tình về bài học đắt giá này. Báo cáo thẩm tra đã nêu ra bất cập là đã tạo ra một lượng vốn bị chiếm dụng rất lớn, ước tính hàng nghìn tỉ đồng, gây khó khăn nghiêm trọng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản...
Điều này là một bài học đắt giá về chất lượng của công tác đánh giá tác động chính sách và cần phải được rút kinh nghiệm nghiêm túc.
Việc phải thực hiện một "sửa chữa nóng" Luật chỉ sau vài tháng ban hành không chỉ gây lãng phí nguồn lực hành chính mà còn làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư vào tính ổn định và nhất quán của môi trường pháp lý. Chi phí của sự bất ổn chính sách luôn là chi phí đắt đỏ nhất. Sự cấp bách này cho thấy, khi lý thuyết và thực tiễn mâu thuẫn, nhà nước phải ưu tiên giải pháp thực tiễn để bảo vệ sự phát triển kinh tế.
Ưu tiên sự ổn định và thấu hiểu
Hành động quyết liệt sửa đổi Luật Thuế GTGT là sự thể hiện tinh thần cầu thị và quyết tâm khắc phục của Chính phủ. Đây là sự lựa chọn tối ưu để giải quyết hậu quả, ưu tiên giải cứu doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bài học lớn nhất từ câu chuyện này không chỉ là việc điều chỉnh các điều khoản kỹ thuật. Nó là một lời nhắc nhở rằng các quyết sách kinh tế lớn cần được xây dựng dựa trên sự thấu hiểu thực tiễn sâu sắc cấu trúc ngành hàng, có các giai đoạn chuyển đổi hợp lý và cơ chế thí điểm trước khi áp dụng đại trà.
Chỉ khi khắc phục được lỗi hệ thống trong quy trình lập pháp và loại bỏ lỗi nhận thức về chuỗi giá trị, chúng ta mới có thể đảm bảo một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, giúp doanh nghiệp an tâm phát triển thay vì phải liên tục xoay xở với những thay đổi chính sách đột ngột.