Thương mại hoá công nghệ là năng lực lõi cho cạnh tranh quốc gia
Thương mại hóa công nghệ trong giai đoạn phát triển mới đã trở thành một yêu cầu chiến lược của quốc gia, gắn trực tiếp với năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Chiều ngày 29/5/2026, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề "Khơi dậy và kết nối các nguồn lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo". Phát biểu tham luận tại sự kiện, ông Vũ Hồng Quân - Đại biểu Quốc hội Khóa XVI, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam - đã thẳng thắn bóc tách những "điểm nghẽn" cốt lõi và đề xuất hàng loạt giải pháp mang tính đột phá nhằm thúc đẩy chuyển giao nghiên cứu vào thực tiễn kinh doanh.

Thực trạng và nghịch lý “chảy máu chất xám tại chỗ”
Thương mại hóa công nghệ được ông Vũ Hồng Quân khẳng định là con đường tất yếu vì tăng trưởng của Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô. Muốn biến tiềm năng thành thực chất, bắt buộc phải nâng mạnh năng lực công nghệ và năng lực thương mại hóa của khối doanh nghiệp nội địa.
Dẫn chứng số liệu, vị Đại biểu Quốc hội chỉ ra đầu tư cho R&D của Việt Nam hiện khá khiêm tốn, chỉ khoảng 0,5% GDP, trong khi mức trung bình thế giới từ năm 2021 đã đạt 2,62% GDP. Ngược lại, Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2025 xếp Việt Nam đứng thứ 44/139 nền kinh tế (đứng thứ 3 khu vực ASEAN, sau Singapore và Malaysia) và có 15 năm liên tiếp duy trì thành tích vượt trội so với mức độ phát triển. Điều này cho thấy Việt Nam không thiếu tiềm năng hay các giải pháp công nghệ đa dạng.
Tuy nhiên, một điểm nhức nhối được ông Quân lưu ý là năng lực nghiên cứu và nhân lực công nghệ xuất sắc ở Việt Nam chưa được chuyển hóa tương xứng vào doanh nghiệp nội địa. Ông dẫn chứng việc tập đoàn Samsung vận hành Trung tâm R&D tại Hà Nội với 2.200 nhân sự, hay Bosch Global Software Technologies sở hữu đội ngũ khoảng 4.000 người.
Kỹ sư Việt hoàn toàn đủ trình độ tham gia chuỗi R&D chuẩn quốc tế, nhưng năng lực ấy lại chưa kết nối với khối doanh nghiệp trong nước. Từ đó dẫn đến nghịch lý “chảy máu chất xám tại chỗ”: nhân lực và năng lực kỹ thuật ở Việt Nam, nhưng giá trị thương mại cao nhất lại thuộc về các tập đoàn nước ngoài, còn doanh nghiệp nội khi cần đổi mới vẫn loay hoay đi nhập khẩu công nghệ từ bên ngoài.
Bốn điểm nghẽn lớn kìm hãm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Nhìn nhận ở góc độ vĩ mô, ông Vũ Hồng Quân đánh giá hệ thống luật pháp đang có những bước mở đường quan trọng, đặc biệt là Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 đã ghi nhận nguyên tắc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và quy định rõ về phân chia lợi nhuận. Tuy nhiên, kết quả kết nối vẫn chưa đạt kỳ vọng do 4 rào cản cốt lõi:
Sự lệch pha về ngôn ngữ: Nhà khoa học bắt đầu từ tính mới của công nghệ; ngược lại, doanh nghiệp bắt đầu từ bài toán kinh doanh như doanh thu, chi phí, rủi ro vận hành. Thiếu cơ chế trung gian "phiên dịch", công nghệ tốt vẫn nằm im trong phòng thí nghiệm.
Năng lực hấp thụ của doanh nghiệp yếu: Phần lớn doanh nghiệp Việt chưa có phòng R&D hay nhân sự chuyên trách. Ông Quân dẫn khảo sát cho thấy chỉ có 4,5% doanh nghiệp nhỏ và vừa, và 11,8% doanh nghiệp lớn có hoạt động R&D, khiến việc tiếp nhận công nghệ sâu gặp nhiều rào cản.
Hệ sinh thái tài chính mỏng: Quá trình đưa công nghệ ra thị trường cần nguồn vốn lớn cho sản xuất thử nghiệm và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Thế nhưng, ngân hàng rất khó tài trợ cho tài sản trí tuệ chưa có dòng tiền ổn định, còn các quỹ đầu tư mạo hiểm theo Nghị định số 264/2025/NĐ-CP vẫn cần cụ thể hóa cơ chế chia sẻ rủi ro.
Thiếu chủ thể trung gian chuyên nghiệp: Hệ sinh thái thiếu các tổ chức trung gian đủ năng lực và có động cơ kinh tế rõ ràng. Ông Quân thẳng thắn nhìn nhận, chúng ta không thể chỉ tổ chức các hội thảo phong trào, ký biên bản ghi nhớ (MOU) rồi bỏ ngỏ, mà cần tổ chức đi cùng doanh nghiệp đến khi ra doanh thu thực tế.
Chiến lược thương mại hoá công nghệ từ mô hình một cửa
Để giải quyết triệt để, ông Vũ Hồng Quân đề xuất hệ sinh thái cần dịch chuyển mạnh mẽ từ tư duy “giới thiệu công nghệ” (phía cung) sang tư duy “giải bài toán thị trường” (phía cầu), xuất phát thẳng từ những khó khăn, chi phí của doanh nghiệp. Song song đó, cần hình thành văn hóa "thử nghiệm nhanh, quy mô nhỏ, chi phí kiểm soát được" trên từng dây chuyền hoặc phân xưởng để giảm thiểu rủi ro trước khi quyết định đầu tư nhân rộng.
Điểm cốt lõi là chủ thể trung gian phải có động cơ kinh tế để nuôi sống hoạt động. Nếu chỉ vận hành bằng phong trào, ngân sách ngắn hạn hoặc nhiệm vụ hành chính, rất khó đi đến kết quả cuối cùng. Trung gian thương mại hóa cần có cơ chế thu phí, chia sẻ doanh thu, góp vốn, đồng đầu tư, hưởng phí thành công hoặc tham gia lợi ích khi công nghệ được thương mại hóa."
ĐBQH Vũ Hồng Quân
Đặc biệt, giải pháp mang tính hành động quyết liệt được vị Phó Chủ tịch đưa ra là thiết lập cơ chế “một cửa kết nối công nghệ” giữa Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Công nghệ cao thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Cơ chế này đóng vai trò tiếp nhận nhu cầu, bóc tách "nỗi đau" của doanh nghiệp để kết nối chính xác với chuyên gia, thiết kế mô hình thử nghiệm và theo dõi sát sao sau kết nối.
Ông Quân nhấn mạnh, chủ thể trung gian này bắt buộc phải vận hành dựa trên động cơ kinh tế thực tế, áp dụng cơ chế thị trường như thu phí dịch vụ, chia sẻ doanh thu hoặc hưởng tỷ lệ phí thành công để nuôi sống bộ máy.
Khơi thông nguồn lực khổng lồ từ mạng lưới doanh nghiệp trẻ
Phân tích về nguồn lực thực thi, ông Vũ Hồng Quân khẳng định mạng lưới của Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam chính là bệ phóng lý tưởng. Hội hiện sở hữu mạng lưới sâu rộng tại 34/34 tỉnh, thành phố, 02 tập đoàn kinh tế và 16 câu lạc bộ trực thuộc với hơn 21.000 hội viên doanh nghiệp, tạo ra doanh thu trên 40 tỉ USD (đóng góp hơn 10% GDP) và 5 triệu việc làm. Đây là không gian thị trường khổng lồ chứa đựng hàng nghìn bài toán thực tế và là môi trường hoàn hảo để làm các dự án thử nghiệm (pilot).
Để hiện thực hóa cam kết sau lễ ký kết hợp tác tại hội thảo, ông Quân đề xuất hai bên cần lập ngay đầu mối thường trực, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ về nhu cầu công nghệ. Giai đoạn đầu sẽ ưu tiên thí điểm đột phá vào các nhóm ngành chiến lược như: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp - thủy sản, dược liệu, vật liệu xây dựng, môi trường, chuyển đổi số, AI và logistics.
Ông Vũ Hồng Quân nhấn mạnh giá trị của hoạt động này phải được đo lường sòng phẳng bằng hiệu quả kinh tế thực tế: số công nghệ đi vào doanh nghiệp, số sản phẩm bán được và mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp. Khi mỗi bản ghi nhớ hợp tác được cụ thể hóa bằng các dự án thử nghiệm thành công, khoa học công nghệ sẽ thực sự trở thành vũ khí sắc bén nâng tầm năng lực cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.