Văn hóa - Đời sống

Truyện ngắn 'Rượu gốc đá' của nhà văn Trung Trung Đỉnh

Trung Trung Đỉnh 27/02/2026 13:00

Tôi cảm thấy hơi lành lạnh phía sau lưng nên tỉnh giấc. Thì ra thằng Liểng ngủ với tôi đêm qua đã biến từ hồi nào.

Có tiếng thổi lửa phù phù và sau đó là ánh sáng nhấp nhóa hắt lên phía trên phên liếp. Mùi thơm của cỏ khô và của củi tươi quyện lại với nhau ấm nồng căn nhà nhỏ ba ngăn tường chình đất dày, kiên cố như một pháo đài. Một bên là phòng ngủ của Chị Mủa, ở giữa là bếp, là nơi sinh hoạt chung, còn một bên là phòng ngủ của thằng Liểng, con trai chị.

- Mày đem nước nóng ra cho chú Bình rửa mặt đi.

Chị Mủa nhắc con. Tôi thấy hai cái bóng lao xao trên vách nứa. Tiếng nước rót từ ấm ra chậu thau rổn rảng. Thằng Liểng năm nay đã ngoài hai mươi, nhưng vẫn loắt choắt như chú bé con mười sáu, tính nết rất “ông cụ non”. Nó ít nói, làm việc suốt ngày. Nhoáy một cái là không thấy nó đâu. Liểng bỏ học ở nhà mấy năm nay rồi. Lại mắc căn bệnh lười không chịu lấy vợ, chị bảo tôi thế. Nó chỉ ham vui vẻ. Hôm qua khi thấy tôi đột ngột xuất hiện, chị Mủa sững người một lúc rồi ngồi ôm gối khóc, bảo hồi chú lên thực tập vẽ vời, tôi còn má hồng, thẳng Liểng còn bám gấu váy mẹ.

Bố nó hiền thế, uống ruợu thổi khèn hay nhất chợ Đồng Văn, cưỡi ngựa hay nhất bản, quý chú như người anh em mà sao ông Trời nỡ phạt bị ngã, đá đè chết cả người lẫn ngựa rồi! Tôi đã biết tin này từ lâu nên không đột ngột. Thằng Liểng tháo ba lô trên vai tôi xuống. Tôi thắp hương cho anh Liểu trên cái ban thờ đơn sơ ngày xưa tôi xẻ gỗ sa mu làm cho anh chị theo kiểu của người xuôi. Ban thờ bụi bậm có treo bức chân dung anh, do tôi vẽ và bộ tiểu thuyết Tàu Tam quốc diễn nghĩa nhàu nát cũng do tôi mang lên, rồi ngồi bên hai mẹ con chị.

- Em biết tin anh mất từ dưới xuôi, nhưng bận công tác quá không lên được.

- Mày cũng hết tuổi trẻ rồi em ơi, chị Mủa phủi mấy hạt mưa bụi trên mái tóc hoa râm của tôi, nói.

Ảnh màn hình 2026-02-26 lúc 22.28.46
Phố cổ Đồng Văn - Ảnh: Internet

Mấy chục năm trước tôi cũng đã ngoài hai mươi. Có lẽ tuổi trẻ được chị tính từ khi tóc xanh đổ lại. Thằng Liểng pha cho tôi bát nước chè gừng rồi nhoắt một cái đã thấy nó phốc lên mình ngựa. Con ngựa nãy giờ ỉu xìu đứng dưới gốc mai già vì trời rét và vì phải đứng lâu chồn cẳng, nên khi thằng Liểng nhảy lên lưng, nó sướng quá chồm dựng hai vó trước hí mấy tiếng, giật cục, khói túa ra miệng.

- Chú Bình à, chú chờ con nhá.

Thẳng Liểng cầm cương trên mình ngựa cúi xuống nói. Rồi phóng đi.

- Nó đi gọi bạn tới uống rượu cho chú vui đấy, chị Mủa nói. Ăn mèn nén đi.

Tôi bốc mèn nén ăn. Vị ngọt thơm của ngô thật quyến rũ. Hồi anh Liểu còn sống, mỗi lần theo anh chị đi chợ Đồng Văn về, thế nào anh Liểu cũng say nhoè. Tôi cũng say nhoè. Con ngựa “xích thố” của anh Liểu to khoẻ nhất vùng, được chị Mủa nhờ người khiêng hai anh em tôi vắt lên lưng nó, buộc chằng lại cùng với các vật dụng mua sắm được, rồi chị cứ thế giắt thằng Liểng lên đường về bản.

Ngựa theo đường cũ, gõ móng đều đều. Non xanh ngằn ngặt tuyền đá cùng đá. Đường lên cheo leo vắt vẻo tuyền khe với khe. Khắc đi khắc đến. Mưa! Con ngựa tự động dừng lại. Chị Mủa ôm thằng Liểng đứng sát vỉa đường, che ô cho hai gã say tít, tới khi trời tạnh mưa, con ngựa lại gõ móng lên núi đều đều. Đêm thì đốt đuốc đi theo cái đuôi vật vờ của nó. Cả bản cùng giống nhau. Vợ chồng trẻ nhà nào cũng đi như thế, nên chả ai cười ai. Có hôm vừa say vừa đi vừa hát. Hai anh em tôi khiêng mẹ con chị Mủa cho lên ngồi trên yên “Xích thố”, mỗi người hộ tống một bên. Anh Liểu mê Tam Quốc diễn nghĩa, mê Quan Công, Trương Phi, Lưu Huyền Đức không kém gì tôi. Anh đã làm tới chức phó chủ tịch phụ trách văn hoá xã, được học hết lớp 7 hệ mười năm chứ có ít đâu. Lúc vui anh gọi chị Mủa là Cam phu nhân, còn hai anh em tôi là Quan Công, Lưu Bị.

Thỉnh thoảng nhớ miền xuôi, tôi đứng trên đỉnh núi đá nhọn phía sau nhà anh, từ gốc sa mu nhìn xuống dòng sông Nho Quế. Con sông uốn lượn ngoằn ngoèo như con rắn bạc, trườn xuống xa xanh hun hút. Anh Liểu biết tôi nhớ nhà liền phóng ngựa quanh chân núi gọi ời ời. Tôi hổn hển cắp giá vẽ tụt xuống. “Sao người Mông ở cao thế?”, tôi hỏi anh khi anh bốc tôi lên ngựa. “Sao người Kinh mày ở dưới xuôi xa thế?”, anh hỏi lại và sau đó thúc ngựa phi nước đại trên con đường mòn tới nương ngô, nơi ấy mẹ con chị Mủa đang đốt đống củi và thân ngô trong cái chòi nương dựng tạm tựa vào hai hốc đá lớn. Thằng Liểng loay hoay vun đất làm núi. Tôi đặt giá vẽ, vẽ hai mẹ con chị.

Trời ạ, sao mà cái nhà chị Mủa này cứ thấy tôi định vẽ là đứng lên bỏ đi. Nhưng tôi cứ vẽ. Anh Liểu lấy ruợu ra ngồi bên đống lửa chờ. Tôi buông cọ, xếp mấy típ sơn màu vào túi không vẽ nữa vì tự dưng thấy mình bất lực.

Mỗi năm một lần, anh Liểu và chị Mủa cõng đất từ chân núi lên đây rải trong các khe đá để làm nương trồng ngô. Có hôm ngồi uống rượu nói chuyện trồng ngô, tôi cứ thắc mắc sao người Mông không xuống núi có nhiều đất. Anh Liểu lừ lừ nhìn tôi khó chịu, rồi anh trật vai áo cho tôi xem những vết chai. Cả bàn chân anh cũng sần lên một lớp chai dầy. Cái cối đá to vật ở đầu hồi là của hồi môn bố mẹ chị cho khi hai anh chị ra ở riêng. Cái cối ấy trải qua không biết bao nhiều đời rồi. Nó đã xay được cả núi ngô chứ chả chơi đâu. Anh Liểu tự hào ra mặt về con “xích thố” và cái cối xay đá của mình. Nhiều hôm anh tập cho tôi cưõi ngựa, vì anh thích gọi tôi là Quan Vũ, nhưng đúng là tôi không đủ can đảm ngồi trên lưng ngựa một mình, trong khi đó, thằng Liểng chẳng biết sợ là gì. Nó bé loắt choắt mà giọng cười vang núi khi anh cho ngồi sau lưng ngựa cùng với anh và tôi phi nước đại.

- Chị Mủa à, thằng Liểng không được học nữa, em tiếc cho nó quá.

- Ôi dào, học hết cấp hai là giỏi rồi. Cho nó học thêm nữa lại đi mất như con Xíu nhà ông Chiềng đấy.

Chính con Xíu con ông Chiềng đến nhà tôi ở Hà Nội chơi, báo tin anh Liểu mất. Nó bây giờ được cử đi học cao học ở Trung Quốc về ngành nghiên cứu văn hóa phương Đông rồi.

- Chị nghĩ quẩn đấy, tôi nói. Con ông Chiềng bây giờ khá lắm.

- Thôi, tôi nghĩ quẩn làm quẩn cũng được. Chị nói rành rẽ. Hồi sắp lấy nhau, anh Liểu cũng được gọi đi học cho thành đại học dưới xuôi, nhưng đi học thì tôi không lấy đâu. Thế mà ở lại đấy.

- Nhưng thằng Liểng bây giờ khác

- Chú nói hay nhỉ? Thế bé Thảo nhà chú ra trường rồi sao không cho lên đây? Ngày xưa chả bảo gả con cho nhau, sao cứ lờ tịt đi thế? Sợ xa xôi chứ gì? Sợ mất con chứ gì?

Tôi ngồi thẫn nhìn ra ngoài thung. Sương đặc chất thành từng đống trên các chòm núi đá lô nhô. Lại có những vệt mỏng tang bay quẩn, chợt bắt được luồng gió hút lao vội xuống. Tiếng vó ngựa dồn dập. Một tốp ba bốn con, năm sáu con phóng vùn vụt, thoắt ẩn thoắt hiện trên con đường mòn ngày xưa mỗi lần nhớ xuôi, tôi lại đi lẩn thẩn trên đó.

- Bọn nó đem rượu thóc ủ trong hang dơi có ba năm rồi ...

Chị nói và đứng nhìn ra phía núi xa, rồi tiếp.

- Rượu quý lắm, người Mông tôi gọi thóc ủ phân dơi là rượu Gốc đá đấy.

Chị nắm tay kéo tôi chạy ra gốc mai già, khi bọn trẻ đã rộn ràng xuống ngựa.

- Đây rồi. Có nhiều rượu ngon mời chú uống đây rồi, chị Mủa nói. Cứ uống đi cho rõ say xong chú muốn vẽ vời gì thì vẽ. Miền cao chúng tôi sướng thế, chú ở mãi mà chả biết gì cả.

*

Tôi thực lòng không hiểu vì sao chị Mủa lại cứ khăng khăng không cho thằng Liểng đưa cậu Tính, bạn tôi, là một nhà hang động học vào trong núi Seo Sảo khám phá cái hang đá mà chính chị nói, thuở nhỏ chị đã cùng chúng bạn tới đó, không đứa con gái nào dám theo anh Liểu chui vào trong, nhưng chị thì dám.

- Chị dám vì có anh chứ gì?

Tôi nói vui.

- Không phải đâu, mày sai bét rồi.

Chị đắc ý nhìn tôi nghiêm nghị, tiếp:

- Anh dám vì có chị đấy.

Tôi dấn sâu thêm vào lòng tự ái của chị bằng lời khích bác vẫn được chị coi là thói xấu của tôi bấy nay:

- Ôi dà, hai ông bà yêu đương, đưa nhau vào hang đá, tôi nói. Đẻ được thằng cu con, đặt tên là Seo Liểng, giờ ích kỉ không muốn cho con đưa các chú vào hang nghiên cứu, để giữ làm của riêng, em biết tỏng gan ruột chị rồi.

- Biết theo ý mình mà gọi là biết, thật là cái nhà chú này học cho lắm chữ để cái đầu nó đặc lại, nói năng chả ra làm sao.

Tôi biết mình nói hố.

Bữa cơm chiều chị chỉ ăn hai lưng bát rồi buông đũa. Thằng Liểng đi chơi với bạn tít trên Mèo Vạc nghe đâu hai ba ngày nữa mới về. Anh Tính buồn vì không thuyết phục được chị cũng theo thằng Liểng đi chơi, để mình tôi ở nhà với chị làm công tác "dân vận".

Dạo này nó ham lên trên đó tập thổi khèn, múa khèn để cuối năm xuống Hà Giang biểu diễn văn nghệ quần chúng cho huyện, cho tỉnh.

Chị vừa nói như chỉ nói với chính mình rồi đem ấm rượu vừa hâm nóng trong bếp ra khi thấy tôi ở ngoài hiên.

- Rượu nóng chỉ uống khi trời lạnh thế này mới đã. Tôi nói.

Bản người Mông này vừa cheo leo lại vừa lẩn khuất trong cái khe núi đá dựng đứng, cách đường ô tô nửa tiếng đi bộ. Từ đó lên Cổng Trời hai tiếng chạy xe đít-vuông của thập niên tám mươi thế kỷ trước. Thuở ấy, thời còn trai trẻ của tôi, tôi đã lên đây cùng anh Liểu, chồng chị. Mấy chục năm rồi, vậy mà bản nghèo thế nào bây giờ vẫn thế, chỉ khác có thêm con đường đá dăm phía ngoài thung đi lại rộng và êm hơn. Đường vào bản cũng không lắt lẻo rậm rì như xưa.

Ảnh màn hình 2026-02-26 lúc 22.31.05
Phiên chợ ở phố cổ Đồng Văn

Phía trước nhà chị Mủa là một rừng đá xanh um giữa những vạt ngô viền quanh thung lũng cũng xanh um. Những dãy mơ cây mận cây đào cũng xanh um tùm. Cái thứ màu xanh sung mãn của mùa Xuân gối lên màu xanh khí trời thành ra những lớp xanh xanh mờ mờ ao ảo, đậm dần sâu dần đẩy ta vào trạng thái chỉ còn có thể nói là lâng lâng bởi mới đó mọi vật còn hiện hình mà chỉ nhoáng một cái đã thành nhoè mờ lễnh loãng.

Một thứ lễnh loãng níu kéo da diết quyến rũ đến mụ người. Tôi chợt tỉnh khi nhận ra có loài hoa gì đỏ chói chấp chới bay trong mang mang khói, trong mang mang sương chiều, từng cụm, từng cụm, rải rác theo nếp gấp của núi đá đẹp lộng lẫy như những cái lẵng hoa khổng lồ xếp chồng lên nhau. Bây giờ chỉ còn sương mù dày đặc, cảm giác mát lạnh hun hút, trên các triền thung xa xa nhập nhoè những đốm sáng nhỏ nhoi lúc ẩn lúc hiện. Chị Mủa bảo người ta đốt đuốc đi chơi bên nhà ông trưởng bản có đám.

Tôi nghe thoang thoảng như trong sương gió tiếng lục lạc rung, tiếng mõ lóc cóc, tiếng vó ngựa gõ đều đều đâu đó. Lại có tiếng người gọi nhau không ra gần cũng không ra xa, nó cứ vời vợi thế nào. Chiều và tối sao xuống nhanh thế? Chị Mủa hạ tấm phên che sương thấp hơn rồi đem cái chậu than to tướng đặt trước mặt tôi, bật diêm nhóm lửa. Những tảng than còn nguyên hình cành cây được chị đổ một ít dầu hoả cho bén nhanh phựt phựt bốc mùi khét lẹt.

Trong giây lát qua những thao tác nhanh, gọn, chị vừa quạt vừa kéo lê cái chậu xích ra ngoài đón luồng gió quen, theo cách nói của chị. Chậu than hồng rực lên rồi đượm dần, nổ lách tách tung huơ ríu rít những chùm hoa cải múa may rõ là vui mắt trong giây lát rồi lại tắt lịm, toả mùi thơm thoang thoảng như trầm hương. Không phải trầm hương. Đó là mùi của hoang sơ chất phác và nồng nàn, không tài nào định rõ được.

- Hang động học là cái gì, chú?

Chị Mủa kéo xích chậu than rực đỏ lại chỗ tôi, lấy tấm tôn cong chắn hai phần để che gió, đoạn cầm bát rượu bốc khói tôi đưa, hỏi.

Tôi trả lời qua quýt:

- Hang động học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu các loại hang hốc trong núi và cả ngoài biển khơi nữa.

- Chú cũng là nhà hang động học à?

- Vâng, tôi đáp tỉnh bơ cốt để cảnh giác những ý tứ giễu cợt của cái nhà chị Mủa rất hay vặn vẹo "thằng em dưới xuôi" này.

- Chị quên em còn là nhà thơ nữa à? Tôi nói với hy vọng chị sẽ vui hơn.

- Thơ phú thì biết. Chú làm thơ dễ cũng lâu rồi đấy nhỉ?

- Ba chục năm chẵn. Tôi hào hứng vì thấy chị vẫn quan tâm đến công việc của mình.

Của đáng tội, mấy chục năm qua vừa làm công tác chuyên môn, vừa làm thơ, hễ cứ in được tập thơ nào là tôi đều gửi lên biếu chị. Hôm rồi thấy tôi lên, thằng Liểng lôi từ trong một cái túi ni-lông bọc rất kỹ ra khoe, quyển nào quyển nấy còn mới tinh cả, khiến tôi cụt hứng và buồn không còn biết nói thế nào.

- Tôi nghĩ chú làm nghề hang động học có khi thích hợp hơn, sao lại còn thơ thơ thẩn thẩn nữa làm gì?

Chị Mủa gần như không để ý tới thái độ của tôi, nói với giọng hết sức bình thường, giống như ta đang bàn chuyện làm ăn vậy.

- Chị không thích đọc thơ à?

- Không phải không thích đọc thơ mà chỉ là không thích đọc thơ của chú thôi.

Chị vẫn thản nhiên, không sợ mếch lòng, mặc dù tôi rất buồn.

Tôi hỏi:

- Chị chê thơ em dở sao?

- Không. Không phải thế... nhưng…

- Chị để em đọc chị nghe bài thơ em mới làm về đá nhé. Lạ lắm.

Không ngờ chị phản ứng ngay:

- Thôi, thôi. Không lạ đâu. Đá thì có gì mà lạ...

Chị nhấp một ngụm rượu rồi nhìn tôi vẻ giễu cợt, tiếp:

- Hồi tôi học đại học sư phạm Việt Bắc, cứ thấy mấy đứa bên khoa văn làm thơ, viết văn, mới đầu phục lắm, sau làm quen thấy chúng nó tâng bốc nhau, một thời gian sau lại thấy chúng nó chê nhau, nói xấu nhau, tôi chả hiểu ra làm sao cả. Chú có thế không?

- Dạ có... à không…

Tôi chột dạ vì cảm thấy cái nhà chị Mủa tinh quái này đang bắt nọn mình, hoặc cũng có thể chị nói thế chỉ là để nhắc lại một kỷ niệm.

- Đã làm khoa học sao lại còn thơ thẩn xen vào đây?

Chị nói gay gắt thực sự.

- Chú yêu cái nào hơn?

- Tất nhiên, cả hai. Tôi khẳng định nhưng không giấu được lúng túng vì bị bất ngờ bởi câu nói nghiêm trang của chị.

- Hai vợ à? Chị cười rúc rích khiến tôi cảm thấy vui.

- Hai vợ. Tôi nói. Một vợ là hang động, một vợ là nàng thơ, lúc ở với bà này thì quên bà kia đi, thế thôi.

Chị Mủa cười giàn giụa rồi uống cùng tôi hết bát rượu đầy.

- Không phải chị không muốn cho thằng Liểng đưa hai chú vào hang nghiên cứu đâu, chị vừa xoay xoay cái bắp ngô đang nướng trên que cời vừa nói nhỏ nhẹ. Năm nay chị đã sáu mươi tuổi rồi. Chú cũng tới năm mấy chứ ít gì?

- Vâng. Tôi buồn bã nói. Năm mấy hay sáu mấy thì đã sao? Quy luật của trời đất sinh lão bệnh tử có chừa ai ra đâu.

Đúng là cái nhà chị Mủa này”, tôi nghĩ vui vẻ. “Đã tỉnh lẻ lại còn nhà quê. Đã nhà quê lại còn nhà quê miền núi. Đã miền núi lại còn về hưu. Đã về hưu lại còn rất hay đả kích thằng em dưới xuôi đang một công hai việc này. Bảo cho thằng Liểng đi theo các chú có khi kiếm được việc làm lâu dài, nếu dự án khai thác nước hang Seo Sảo thành công. Nhưng đúng là cái lý của bà chị người Mông cũng ghê thật”.

- Chú đừng buồn, chị tiếp. Tôi đã về tới đây rồi, chỉ thích được yên lành thôi.

Chị Mủa nói và nhìn tôi âu yếm. Tôi đặt bát xuống cái ghế con. Chị lấy ấm rượu rót đầy bát cho tôi. Tôi chưa vội uống ngay. Rượu ngô nóng ngồi nhâm nhi với người tri kỷ, lâu ngày gặp mặt thật không còn chê vào đâu được. Chị Mủa vẫn coi tôi là em. Tấm lòng chị thương tôi thế nào tôi biết, dẫu chị em cách trở hơn mấy chục năm trời mới có dịp gặp. Anh Liểu chồng chị không hiểu sao lại đoản mệnh thế? Chưa tới bốn mươi tuổi mà đã vội khuất núi vì tai nạn hiểm nghèo, để chị một mình nuôi thằng Liểng khôn lớn đến giờ, bằng lương giáo viên, và bằng tình yêu không bao giờ nguôi được.

Phiên chợ ở phố cổ Đồng Văn
Nét đẹp kiến trúc và văn hóa phố cổ Đồng Văn, Hà Giang

Tôi thuở mười tám thi trượt đại học, theo phong trào thanh niên tình nguyện lên đây làm cán bộ văn hoá tăng cường xuống xã, ăn dầm nằm dề nhà anh chị cả năm trời. Đến khi thi đỗ đại học thì "phắn" một lèo. Trưa nãy chị lấy những tấm ảnh thời ấy chụp ngoài phố huyện ra cho tôi xem. Mặt ai cũng sáng bừng. Mắt ai cũng long lanh. Chi bảo thuở chị em mình ít chữ mặt sáng, bây giờ có chữ nhiều mặt tối rầm rầm. Anh Liểu dẫn dụ được chị bằng một đống vỏ kèn lá ngoài thung. Chị theo tiếng nhạc anh heo hút cả đêm ngoài hang đá. Rồi anh mở lối vào hang, không phải bằng rìu bằng búa mà bằng trí tò mò tuổi trẻ, bằng cả cái nhìn thách thức và khuyến khích của chị trước chúng bạn bản xa bản gần.

Hang Seo Sảo cửa chồng ba lớp đá, chỗ rộng nhất vừa thân người lách qua. Càng vào được trong càng thấy cái bụng nó phình ra, lượn vào, căng mắt nhìn qua ánh sáng đèn pin chỉ thấy hun hút những chùm đá nhẵn thín phẳng lì như những mảng vẩy rồng uốn lượn, lại có chỗ lô nhô như một dãy đầu sư đang cúi tụng kinh niệm Phật. Càng bước sâu vào trong càng nhiều những ngóc ngách thăm thẳm đá trơn nhẵn.

Trên vòm hang từng chùm từng chùm thạch nhũ, nước chảy nghe rõ tiếng kêu róc rách vẳng lại mà chưa ai tìm được nước ở chốn nào! Các cụ già bảo thuở xa xưa đại hồng thuỷ, xứ này là xứ danh lam, nơi ăn chơi của vua Thuỷ Tề, nhưng rồi vì mải vui chơi cưỡi rồng giỡn sóng, quên mất thần dân đang ngập lụt khốn khổ trăm bề khiến Trời giận làm cho khô hạn. Thuỷ Tề cưỡi rồng chui sâu vào hang trốn vào tận thâm cung dưới lòng sông Nho Quế. Vì thế hang này nước ăn tít trong lòng đá, ai mà tìm gặp nước trong hang là lập tức bị Thủy Thần bắt về cung làm lính hầu. Người ta còn đồn, anh Liểu đoản mệnh cũng vì dám bỡn cợt với thần linh. Nay chị không cho thằng Liểng theo cánh tôi lên hang hoá ra là vì lẽ đó.

- Em hiểu, tôi nói. Chị chả cần phải nói thêm nữa mà.

- Là chị nói ra để chú không giận.

- Vâng, tôi triết lý cốt để chị khỏi mặc cảm. Cuộc đời ta như bóng ngựa vút qua cửa sổ, tiền tài tiếng tăm rồi cũng về cõi cả thôi mà.

- Chú uống đi kẻo nguội.

Chị dơ bát rượu lại phía tôi. Tôi cầm bát cụng bát với chị rồi uống một hơi cạn. Đêm cao nguyên gió quất phù phù ngoài vách đá. Những chấm sao li ti trên chỏm núi kia dường như cũng đang phiêu du tới cõi khôn cùng nào mà chúng cứ xúm xít nhau tạo nên vẻ đẹp vu vơ tôi không tài nào diễn đạt được. Rượu nóng toả lan khắp cơ thể khiến tôi chợt cảm hứng muốn đọc thơ cho chị Mủa nghe quá. Nhưng chị Mủa lại đứng lên vào nhà thắp hương cho anh Liểu.

Tôi đành tự rót thêm cho mình một bát nữa.

Bỗng có tiếng ngựa hí giật lên và tiếng vó ngựa dồn phía sau nhà. Chị Mủa hớt hải cầm đèn pin chạy ra. Tôi chạy theo sau chị. Có ba người đàn ông vừa phi ngựa tới, họ đang nói gì với chị Mủa ở bãi ngô. Tôi lại gần thì ba người đàn ông đã phốc lên ngựa, biến mất.

- Có chuyện gì không chị? Tôi hỏi.

Chị Mủa ngồi trở lại chỗ cũ, rót thêm rượu vào bát cho tôi. Rượu tràn cả ra ngoài. Nét mặt chị thoả thuê giống như ta vừa làm xong việc gì lớn lắm.

- Chú uống nữa đi, rượu này chị nấu dành riêng cho khách quý đấy.

Tôi uống tiếp một bát nữa.

Chị Mủa nói giọng thích thú:

- Ba ngày nay thằng Liểng dẫn chú Tính lên huyện chơi, nó làm mối chú Tính cho cô giáo Bay của nó, nghe nói hai người ưng nhau lắm.

- Thôi chết rồi, tôi thốt lên. Cậu Tính này là chúa ham trò giăng gió. Công việc chưa đâu vào đâu, sao cậu ấy lại làm thế nhỉ.

- Chú yên tâm, tôi đã ra lệnh cho bọn trẻ kéo nhau lên núi đào đá lấp cửa hang, lấp cả đường lên hang rồi, không có chuyện nghiên cứu của các chú nữa đâu.

Chị nói và nhìn tôi lạnh lùng.

Tôi vừa cầm bát rượu lên tay cảm thấy rụng rời, hoa cả mắt, bát rượu rơi xuống đất.

- Chú đánh rơi bát rượu này là chú Bình nhà thơ hay chú Bình hang động đấy?.

Chị Mủa nhặt bát lên, rót tràn ra ghế, nói giễu tôi rồi lại âu yếm đưa lại cho tôi.

Tôi cầm bát rượu nhìn ánh mắt khuyến khích của chị rồi ngửa cổ uống sạch sành sanh. Tôi muốn uống hết cả nước ở cái thung lũng toàn đá này quá.

Thật đấy!

- Chú uống nữa đi.

Chị Mủa rót thêm vào bát cho tôi, tiếp tục lạnh lùng:

- Tôi thấy chú uống rượu gốc đá của bản tôi còn hay hơn cả làm thơ, thật hơn cả làm thơ. Chứ còn cái món "hang động học" của chú thì tôi không rõ.

Tôi chỉ còn biết “vâng vầng” với chị rồi ngả hẳn đầu vào vách nhà, nghe loáng thoáng tiếng chị đâu đó. Hình như chị bảo chị tin chắc cái món nghiên cứu nghiên kiếc gì của chú cũng dở như những bài thơ của chú là cùng.

Ảnh màn hình 2026-02-26 lúc 22.36.37
Rượu ủ trong hang đá - Ảnh: Internet

Nói rồi hai chị em lại uống cạn bát nữa. Bát nữa. Rượu gốc đá là rượu ủ trong hang dơi, thằng Liểng đem về, hai chị em ngồi uống như thế cho đến khi trăng ngằn ngặt sáng trên thung lũng từ lúc nào không hay.

Trung Trung Đỉnh-ảnh
Nhà văn Trung Trung Đỉnh

Nhà văn Trung Trung Đỉnh (tên khai sinh là Phạm Trung Đỉnh, sinh năm 1949). Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với cụm 3 tiểu thuyết: Lạc rừng, Tiễn biệt những ngày buồn, Ngược chiều cái chết. Ông là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Văn nghệ và Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Nổi bật
      Mới nhất
      Truyện ngắn 'Rượu gốc đá' của nhà văn Trung Trung Đỉnh
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO