Hỏi - Đáp

TS Hoàng Văn Phúc: Cánh cửa toàn cầu đang mở cho bưởi Tân Triều

Hoàng Bắc 05/06/2026 07:07

Nông nghiệp xanh và hội nhập quốc tế đang là xu thế tất yếu, đặc sản bưởi Tân Triều (TP. Đồng Nai) đứng trước cơ hội lớn để khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, đi cùng với những cơ hội đó là hàng loạt thách thức liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, hạ tầng logistics và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

TS Hoàng Văn Phúc
TS Hoàng Văn Phúc.

Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với TS Hoàng Văn Phúc, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Bách khoa Sài Gòn, đồng tác giả nghiên cứu “Phát triển bền vững bưởi Tân Triều trong bối cảnh nông nghiệp xanh và hội nhập quốc tế”. Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm tác giả đến từ nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu và cơ quan quản lý chuyên ngành, trong đó TS Trần Thanh Đại, Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai, là tác giả liên hệ của công trình.

Bưởi Tân Triều- một biểu tượng văn hoá

- Thưa ông, vì sao bưởi Tân Triều được xem là sản phẩm nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt đối với Đồng Nai ? Theo nghiên cứu của ông và cộng sự, ngành hàng này đang đối mặt với những thách thức lớn nào ?

- TS Hoàng Văn Phúc: Bưởi Tân Triều không đơn thuần là một loại trái cây đặc sản mà còn là biểu tượng văn hóa, lịch sử và sinh kế của nhiều thế hệ người dân Đồng Nai. Từ lâu, sản phẩm này đã gắn liền với vùng đất cù lao Tân Triều, trở thành một phần trong đời sống kinh tế và bản sắc địa phương. Với chất lượng đặc trưng, hương vị riêng biệt và thương hiệu đã được thị trường trong nước biết đến rộng rãi, bưởi Tân Triều có tiềm năng rất lớn để phát triển thành sản phẩm nông nghiệp giá trị cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bưởi Tân Triều là đặc sản của vùng đất Đồng Nai
Bưởi Tân Triều là đặc sản của vùng đất Đồng Nai.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và xu hướng phát triển nông nghiệp xanh trở thành yêu cầu tất yếu, lợi thế truyền thống thôi là chưa đủ. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ngành bưởi Tân Triều đang đối mặt với ba nhóm thách thức lớn.

Thứ nhất là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế còn thấp. Hiện nay, tỷ lệ áp dụng các tiêu chuẩn như GlobalGAP vẫn rất hạn chế, chỉ khoảng 10%. Đây là rào cản lớn khi muốn tiếp cận các thị trường có giá trị cao như châu Âu, Nhật Bản hay Bắc Mỹ, nơi yêu cầu rất nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững.

Thứ hai là hệ thống logistics và công nghệ sau thu hoạch còn yếu. Tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch của bưởi Việt Nam hiện khoảng 20%, cao hơn nhiều so với các quốc gia có ngành cây có múi phát triển. Điều này làm giảm đáng kể giá trị thương mại và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Thứ ba là tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán, ngập úng, sâu bệnh và sự thay đổi môi trường canh tác đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng cũng như tính ổn định của sản xuất.

Bên cạnh đó, sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún; sự liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý chưa thật sự chặt chẽ. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành bưởi trong giai đoạn tới.

Nhiều rào cản trong xuất khẩu

- Kết quả khảo sát trực tiếp người trồng bưởi cho thấy điều gì đáng chú ý về nhận thức, phương thức sản xuất và khả năng đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu hiện nay?

- TS Hoàng Văn Phúc: Khảo sát 100 hộ trồng bưởi tại Tân Triều đã phản ánh khá rõ thực trạng sản xuất hiện nay và cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu của thị trường với khả năng đáp ứng của người sản xuất vẫn còn khá lớn.

ChatGPT Image 21_38_16 4 thg 6, 2026
Người dân làng bưởi Tân Triều vào mùa thu hoạch.

Một kết quả đáng chú ý là có tới 60% nông dân cho biết đã từng nghe đến GlobalGAP, nhưng chỉ khoảng 25% thực sự hiểu rõ các yêu cầu cụ thể của tiêu chuẩn này. Khi được hỏi về mức độ sẵn sàng áp dụng, chỉ 40% cho biết sẵn sàng thực hiện, trong khi 30% còn phân vân và 30% không có ý định thay đổi trong thời gian gần. Điều này cho thấy nhận thức ban đầu đã có nhưng chưa chuyển hóa thành hành động thực tế. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí chứng nhận cao, quy trình thực hiện tương đối phức tạp và thiếu các chương trình hỗ trợ kỹ thuật phù hợp.

Về phương thức sản xuất, khoảng 75% diện tích bưởi hiện vẫn được canh tác theo hướng truyền thống. Chỉ khoảng 25% số hộ khảo sát đã áp dụng các mô hình sản xuất hữu cơ hoặc thân thiện với môi trường. Đây là tỷ lệ khá thấp nếu đặt trong bối cảnh người tiêu dùng quốc tế ngày càng quan tâm đến các sản phẩm an toàn, bền vững và có trách nhiệm với môi trường.

Một vấn đề khác cũng rất đáng quan tâm là khả năng truy xuất nguồn gốc. Khảo sát cho thấy chỉ 40% nông dân hiểu rõ về khái niệm này; 35% chỉ biết sơ lược và 25% chưa từng tiếp cận. Trong khi đó, truy xuất nguồn gốc hiện là yêu cầu gần như bắt buộc đối với các sản phẩm muốn tham gia chuỗi cung ứng hiện đại và xuất khẩu vào các thị trường cao cấp.

Điều tích cực là hơn một nửa số người được khảo sát bày tỏ mong muốn tham gia hợp tác xã hoặc các mô hình liên kết sản xuất. Điều đó cho thấy vẫn có nền tảng thuận lợi để xây dựng các chuỗi giá trị bền vững nếu có chính sách hỗ trợ phù hợp.

-Điều gì đang cản trở người trồng bưởi tham gia xuất khẩu? So với các quốc gia sản xuất cây có múi hàng đầu, ngành bưởi Việt Nam hiện đang ở vị trí nào ?

- TS Hoàng Văn Phúc: Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có 4 rào cản chính đang ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia xuất khẩu của người trồng bưởi.

Người dân làng bưởi Tân Triều
Người dân bày bán đặc sản bưởi Tân Triều

Đứng đầu là thiếu kỹ năng kỹ thuật, chiếm 45% ý kiến khảo sát. Nhiều nông dân hiểu rằng muốn xuất khẩu phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu và thực hiện như thế nào. Tiếp theo là chi phí chứng nhận cao, chiếm 30%. Đối với các hộ sản xuất quy mô nhỏ, đây là khoản đầu tư đáng kể và không phải ai cũng đủ khả năng thực hiện. Khoảng 15% cho rằng việc xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc quá phức tạp, trong khi 10% cho biết họ thiếu thông tin về thị trường xuất khẩu cũng như các yêu cầu kỹ thuật của từng quốc gia.

Tuy nhiên, điều đáng mừng là phần lớn người dân không phản đối xuất khẩu. Họ nhận thức được đây là hướng đi cần thiết để nâng cao giá trị sản phẩm nhưng cần thêm sự hỗ trợ về kiến thức, tài chính và hạ tầng. Nếu so sánh với các quốc gia sản xuất cây có múi hàng đầu thế giới, Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa. Hiện sản lượng bưởi của Việt Nam khoảng 300.000 tấn mỗi năm. Trong khi Thái Lan đạt khoảng 650.000 tấn và Trung Quốc lên đến 26 triệu tấn.

Năng suất trung bình của bưởi Việt Nam khoảng 12 tấn/ha, thấp hơn đáng kể so với Thái Lan là 18 tấn/ha và Hoa Kỳ là 24 tấn/ha. Khoảng cách còn thể hiện rõ hơn ở tỷ lệ áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Việt Nam hiện chỉ khoảng 10%, trong khi Thái Lan đạt 55%, Hoa Kỳ khoảng 80% và Liên minh châu Âu khoảng 85%. Ngoài ra, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của Việt Nam vẫn ở mức cao. Giá trị xuất khẩu ngành bưởi cũng còn khá khiêm tốn so với các quốc gia cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Những con số này cho thấy Việt Nam còn nhiều việc phải làm nếu muốn nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, khoảng cách đó cũng đồng nghĩa với dư địa phát triển còn rất lớn nếu chúng ta có chiến lược phù hợp.

Nghiên cứu mô hình Farm–Lab cho bưởi Tân Triều

- Theo ông, đâu là những giải pháp then chốt để bưởi Tân Triều phát triển bền vững và từng bước chinh phục thị trường quốc tế ?

- TS Hoàng Văn Phúc: Dù còn nhiều thách thức nhưng tôi cho rằng triển vọng của bưởi Tân Triều vẫn rất tích cực. Bởi sản phẩm này sở hữu nhiều lợi thế mà không phải vùng sản xuất nào cũng có được.

Tiêu đề bài viết Farm–Lab bưởi Tân Triều
Theo TS Hoàng Văn Phúc cần phải nghiên cứu mô hình Farm–Lab cho bưởi Tân Triều.

Trước hết là chất lượng trái, danh tiếng địa phương và giá trị văn hóa đặc trưng đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, Đồng Nai có điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho cây có múi phát triển. Đây cũng là sản phẩm có nhiều tiềm năng kết hợp với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm nông nghiệp và phát triển chỉ dẫn địa lý.

Để biến những lợi thế đó thành giá trị kinh tế cao hơn, trước hết cần nâng cao tỷ lệ áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP, HACCP và các tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ chi phí chứng nhận, đào tạo kỹ thuật, tư vấn trực tiếp và xây dựng các mô hình trình diễn để người dân dễ tiếp cận. Song song với đó là đầu tư mạnh cho hệ thống logistics, kho lạnh và công nghệ sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất, kéo dài thời gian bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm khi xuất khẩu.

Một giải pháp mới mà nghiên cứu đề xuất là mô hình “Farm–Lab”, có thể hiểu là phòng thí nghiệm đặt ngay tại hợp tác xã hoặc vùng sản xuất. Mô hình này giúp nông dân tiếp cận trực tiếp với các dịch vụ phân tích đất, chẩn đoán sâu bệnh, thử nghiệm công nghệ truy xuất nguồn gốc và quản lý dữ liệu sản xuất. Quan trọng hơn, nó tạo ra cầu nối giữa nhà khoa học và người nông dân, giúp các kết quả nghiên cứu được ứng dụng nhanh hơn vào thực tiễn.

Bên cạnh yếu tố sản xuất, việc xây dựng thương hiệu cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Trong tương lai, người tiêu dùng không chỉ mua một trái bưởi mà còn quan tâm đến câu chuyện phía sau sản phẩm. Vì vậy, bưởi Tân Triều cần được định vị là một đặc sản mang giá trị văn hóa, lịch sử và nguồn gốc địa lý rõ ràng. Việc khai thác hiệu quả chỉ dẫn địa lý sẽ góp phần nâng cao uy tín và tạo sự khác biệt trên thị trường quốc tế. Đồng thời, địa phương có thể phát triển các mô hình du lịch sinh thái gắn với vườn bưởi, trải nghiệm thu hoạch, thưởng thức sản phẩm tại chỗ và lưu trú cộng đồng để gia tăng giá trị cho sản phẩm và tạo thêm nguồn thu cho người dân.

Tôi tin rằng nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, an toàn, hữu cơ và có nguồn gốc rõ ràng sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Nếu giải quyết tốt các điểm nghẽn về tiêu chuẩn chất lượng, logistics, chuyển đổi số, liên kết chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu, bưởi Tân Triều hoàn toàn có thể trở thành một hình mẫu về phát triển nông nghiệp xanh, bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Và có thể nói rằng, cánh cửa toàn cầu đang mở ra cho bưởi Tân Triều.

Nổi bật
      Mới nhất
      TS Hoàng Văn Phúc: Cánh cửa toàn cầu đang mở cho bưởi Tân Triều
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO