Kinh tế

TS. Ngô Trí Long: 'Đích đến cuối cùng của cải cách thị trường xăng dầu là dân được lợi gì'

Đình Long (thực hiện) • 02/10/2026 14:16

“Giá chỉ thực sự mang tính thị trường khi người bán có quyền định giá, nhưng đồng thời người mua có quyền lựa chọn khi thị trường có sự cạnh tranh thực sự và đối thủ có khả năng gia nhập, mở rộng thị trường” - PGS.TS. Ngô Trí Long cho biết.

Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu đang đặt ra một thay đổi đáng chú ý trong cơ chế điều hành giá: Thay vì Nhà nước định kỳ công bố giá bán lẻ tối đa, doanh nghiệp sẽ được chủ động quyết định và công bố giá bán trên cơ sở chi phí, nguồn hàng và tín hiệu thị trường.

Đây là bước chuyển quan trọng theo hướng tăng quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp, đồng thời đưa giá xăng dầu vận hành sát hơn với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, tự do định giá chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi cùng cạnh tranh thực chất, minh bạch thông tin và một cơ chế giám sát đủ mạnh. Nếu những điều kiện này chưa được bảo đảm, nguy cơ có thể xuất hiện là quyền quyết định giá chỉ chuyển từ cơ quan quản lý sang những doanh nghiệp có sức mạnh thị trường lớn. Vấn đề này đặc biệt quan trọng bởi dự thảo Nghị định đang được hoàn thiện.

Xung quanh vấn đề này, Một Thế Giới có cuộc trao đổi với PGS.TS. Ngô Trí Long – chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam.

Tien-si-ngo-tri-long 1
PGS.TS. Ngô Trí Long

Từ Nhà nước định giá sang doanh nghiệp tự định giá

- Phóng viên: Thưa ông, việc trao quyền cho doanh nghiệp tự quyết định giá bán xăng dầu được xem là một bước tiến theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường vẫn có mức độ tập trung đáng kể ở một số doanh nghiệp lớn, liệu có nguy cơ rơi vào tình trạng “thả giá nhưng chưa có sự cạnh tranh thực sự”?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng nguy cơ đó là có thật nếu chúng ta chỉ thay đổi người quyết định giá mà chưa đồng thời thay đổi cấu trúc cạnh tranh của thị trường. Về nguyên lý, doanh nghiệp tự quyết định giá là một bước tiến so với cơ chế Nhà nước định kỳ xác lập một mức giá trần tương đối đồng nhất trên toàn thị trường.

Khi doanh nghiệp được quyền tính toán giá dựa trên giá mua, chi phí logistics, tồn kho, năng suất và chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp nào tổ chức tốt hơn có thể bán rẻ hơn. Đó chính là cơ chế cạnh tranh mà thị trường cần có.

Nhưng điều kiện tiên quyết là người bán phải thực sự chịu sức ép từ đối thủ. Nếu một doanh nghiệp biết rằng khách hàng ở một khu vực không có lựa chọn thay thế, hoặc doanh nghiệp bán lẻ lại phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một nguồn cung lớn, thì việc trao quyền định giá chưa chắc tạo ra cạnh tranh về giá.

Số liệu cho thấy vấn đề này cần được theo dõi nghiêm túc. Bộ Công Thương cho biết Petrolimex hiện chiếm khoảng 43% thị phần xăng dầu toàn quốc, với sản lượng phân phối nội địa năm 2025 trên 11,396 triệu m³/tấn. Trong khi đó PVOIL công bố hệ thống của mình chiếm khoảng 23% thị phần phân phối xăng dầu.

Hai con số được công bố theo các nguồn và cách xác định của từng đơn vị nên không nên cộng cơ học để kết luận pháp lý, nhưng rõ ràng cho thấy mức độ tập trung của thị trường không thấp.

Đáng chú ý, Luật Cạnh tranh quy định doanh nghiệp có thể được xác định có vị trí thống lĩnh khi có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan, hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể; đối với hai doanh nghiệp cùng hành động hạn chế cạnh tranh, ngưỡng tổng thị phần được luật quy định là từ 50% trở lên.

Tuy nhiên, việc xác định thống lĩnh phải dựa trên thị trường liên quan cụ thể, sức mạnh thị trường và hành vi thực tế, chứ không thể chỉ lấy một con số thị phần toàn quốc để kết luận.

Bởi vậy, điều quan trọng nhất là không được nhầm lẫn giữa tự do hóa giá và hình thành thị trường cạnh tranh. Giá chỉ thực sự mang tính thị trường khi người bán có quyền định giá, nhưng đồng thời người mua có quyền lựa chọn khi thị trường có sự cạnh tranh thực sự và đối thủ có khả năng gia nhập, mở rộng thị trường.

Nói cách khác, muốn thị trường quyết định giá thì trước hết phải làm cho có thị trường cạnh tranh thực sự tồn tại.

“

Theo tôi, phải đồng thời tạo ra cạnh tranh ở ba tầng: cạnh tranh về nguồn hàng, cạnh tranh trong phân phối và cạnh tranh tại điểm bán lẻ.

PGS.TS. Ngô Trí Long

- Phóng viên: Vậy theo ông, đâu là những điều kiện cốt lõi để cơ chế doanh nghiệp tự định giá thực sự tạo ra cạnh tranh về giá?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, phải đồng thời tạo ra cạnh tranh ở ba tầng: cạnh tranh về nguồn hàng, cạnh tranh trong phân phối và cạnh tranh tại điểm bán lẻ. Nếu cửa hàng được phép tự định giá nhưng chỉ được mua hàng từ một nguồn, thì quyền định giá của cửa hàng trên thực tế rất hạn chế. Nếu thương nhân phân phối phải lệ thuộc vào một số đầu mối lớn về kho, cảng và nguồn nhập, thì cạnh tranh ở tầng phân phối cũng khó thực chất.

Chính phủ đã nhận diện vấn đề này. Tại cuộc làm việc ngày 11/9/2026, Thủ tướng yêu cầu thiết kế lại hệ thống phân phối theo hướng giảm các tầng nấc trung gian, phân định rõ khâu tạo nguồn và khâu hạ nguồn, khắc phục tình trạng mua bán lòng vòng làm tăng chi phí; đồng thời yêu cầu cơ chế giá phải vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết giảm chi phí, cạnh tranh giảm giá, vừa ngăn việc lợi dụng vị trí thị trường để hình thành mức giá bất hợp lý.

Do đó, tự định giá chỉ phát huy tác dụng nếu đi cùng khả năng chuyển đổi nhà cung cấp, quyền tiếp cận kho bãi và logistics hợp lý, thông tin giá tức thời, chi phí gia nhập thị trường không quá lớn và một cơ quan cạnh tranh đủ năng lực giám sát.

Nói cách khác, muốn thị trường quyết định giá thì trước hết phải làm cho có thị trường cạnh tranh thực sự tồn tại.

thi-truong-xang-dau-canh -tranh5
Cơ chế giá phải vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết giảm chi phí, cạnh tranh giảm giá, vừa ngăn việc lợi dụng vị trí thị trường để hình thành mức giá bất hợp lý. Ảnh: Mai Đình

Không để hình thành quyền lực thị trường

- Phóng viên: Khi không còn mức giá bán lẻ tối đa do Nhà nước công bố định kỳ, theo ông, cần thiết kế cơ chế nào để hạn chế khả năng doanh nghiệp có vị thế lớn áp đặt mức giá bất hợp lý?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng không nên thay một mức giá trần hành chính bằng một mức giá trần hành chính khác dưới tên gọi mới. Thay vào đó, cần xây dựng cơ chế giám sát giá dựa trên dữ liệu và chi phí thực tế.

Cơ quan quản lý phải nhìn được đồng thời giá đầu vào, tồn kho, chi phí logistics, mức chiết khấu, sản lượng bán và giá bán cuối cùng. Khi một doanh nghiệp tăng giá mạnh trong khi giá đầu vào, tỷ giá và chi phí vận chuyển không thay đổi tương ứng, hệ thống phải tự động phát tín hiệu để kiểm tra.

Điều này đặc biệt quan trọng ở các địa bàn miền núi, hải đảo hoặc nơi số cửa hàng ít. Thị trường xăng dầu về mặt cạnh tranh không chỉ là “thị trường toàn quốc”; với người tiêu dùng, thị trường thực tế nhiều khi chỉ là vài cây xăng trong bán kính một số kilômét.

Do đó, ngoài theo dõi thị phần toàn quốc, cơ quan cạnh tranh cần theo dõi mức độ tập trung theo địa bàn, số lựa chọn thực tế của người tiêu dùng và mức chênh giá giữa các cửa hàng lân cận.

Dự thảo hiện đã có một bước tiến quan trọng khi Bộ Công Thương dự kiến xây dựng hệ thống quản lý xăng dầu quốc gia, yêu cầu các thương nhân báo cáo dữ liệu tồn kho, mua bán và kết nối dữ liệu hóa đơn tại các cửa hàng. Đây chính là nền tảng để chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu.

- Liệu cơ chế tự định giá có thể làm gia tăng quyền lực thị trường của các doanh nghiệp lớn có lợi thế về nguồn cung, kho bãi và logistics hay không?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Khả năng đó hoàn toàn có thể xảy ra nếu những lợi thế về hạ tầng biến thành rào cản đối với doanh nghiệp khác. Trong kinh doanh xăng dầu, cạnh tranh không chỉ diễn ra ở bảng giá treo trước cửa hàng. Năng lực cạnh tranh được quyết định từ phía sau bảng giá đó: Khả năng nhập hàng, kho chứa, cảng, vận tải, vốn lưu động, dự trữ và mạng lưới bán lẻ.

Đây cũng là những yếu tố mà Luật Cạnh tranh xem xét khi đánh giá “sức mạnh thị trường đáng kể”, bao gồm tương quan thị phần, sức mạnh tài chính, rào cản gia nhập và khả năng nắm giữ hoặc tiếp cận cơ sở hạ tầng.

Vì vậy, chính sách cần chuyển trọng tâm từ “quản lý giá của doanh nghiệp lớn” sang quản lý hành vi của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường. Một doanh nghiệp lớn không có nghĩa là vi phạm cạnh tranh. Quy mô lớn thậm chí có thể giúp giảm chi phí.

Vấn đề chỉ phát sinh khi doanh nghiệp sử dụng lợi thế đó để ngăn đối thủ tiếp cận nguồn hàng, áp đặt điều kiện bất lợi, phân biệt đối xử, ép hệ thống bán lẻ hoặc duy trì giá cao mà cạnh tranh không thể điều chỉnh.

Một sân chơi bình đẳng do đó phải bảo đảm doanh nghiệp nhỏ có khả năng tiếp cận nguồn cung và hạ tầng thiết yếu theo những điều kiện thương mại hợp lý, minh bạch.

“

Chính sách cần chuyển trọng tâm từ “quản lý giá của doanh nghiệp lớn” sang quản lý hành vi của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường

PGS.TS. Ngô Trí Long

- Ông có tán đồng với quan điểm cho rắng muốn tạo ra cạnh tranh thực chất về giá, có cần mở rộng quyền lựa chọn và đa dạng hóa nguồn cung cho các cửa hàng bán lẻ hay không?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, đây là một trong những nút thắt quan trọng nhất. Cửa hàng bán lẻ chính là điểm mà cạnh tranh tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng. Nếu cửa hàng có quyền lựa chọn nhiều nhà cung cấp đáp ứng tiêu chuẩn, họ có thể thương lượng giá nhập, chiết khấu, chất lượng dịch vụ và thời hạn giao hàng. Khi đó, phần lợi ích từ cạnh tranh ở thượng nguồn mới có khả năng truyền xuống giá bán lẻ.

Ngược lại, nếu một cửa hàng bị khóa cứng vào một nguồn hàng, “mỗi cửa hàng một giá” có thể chỉ là sự khác nhau về giá trên hình thức, còn cấu trúc chi phí vẫn do phía trên quyết định.

Tuy nhiên, đa nguồn không có nghĩa là buông lỏng truy xuất nguồn gốc. Đây là hai yêu cầu phải thực hiện đồng thời. Cửa hàng cần được mở rộng khả năng lựa chọn nhà cung cấp hợp pháp, nhưng từng lít xăng dầu vẫn phải truy xuất được từ nhà máy hoặc nhập khẩu, qua kho, phương tiện vận chuyển, thương nhân phân phối đến cửa hàng.

Dự thảo mới đã đặt vấn đề truy xuất đường đi của hàng hóa từ tạo nguồn, sản xuất, nhập khẩu đến kho, bồn bể, cửa hàng và người tiêu dùng. Đây là hướng rất cần thiết. Về nguồn cung tổng thể, năm 2025 Việt Nam tiêu thụ khoảng 26,4 triệu m³/tấn xăng dầu; năm 2026 Bộ Công Thương đã phân giao tổng nguồn tối thiểu gần 31,8 triệu m³/tấn.

thi-truong-xang-dau-canh -tranh8
Nếu cửa hàng có quyền lựa chọn nhiều nhà cung cấp đáp ứng tiêu chuẩn, họ có thể thương lượng giá nhập, chiết khấu, chất lượng dịch vụ và thời hạn giao hàng. Ảnh: Mai Đình

Minh bạch thông tin phải trở thành điều kiện bắt buộc

- Thưa ông, khi giá có thể khác nhau giữa các cửa hàng và điều chỉnh nhiều lần trong ngày, người tiêu dùng sẽ dựa vào đâu để biết giá có hợp lý?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Khi Nhà nước không còn công bố một mức giá chung, dữ liệu thị trường phải thay thế bảng giá hành chính để trở thành “la bàn” cho người tiêu dùng. Không thể yêu cầu một người đi xe máy tự tính giá dầu thế giới, tỷ giá, premium, chi phí vận tải, tồn kho và lợi nhuận của doanh nghiệp trước khi mua vài lít xăng.

Người tiêu dùng cần một công cụ đơn giản hơn: Một nền tảng chính thức cho phép nhìn thấy giá của tất cả cửa hàng xung quanh theo thời gian thực, thời điểm cập nhật giá, loại nhiên liệu và tiêu chuẩn chất lượng. Khi đó, người tiêu dùng có thể so sánh. Và chính khả năng so sánh tạo ra kỷ luật thị trường. Đây là điểm rất quan trọng.

Trong thị trường cạnh tranh, người tiêu dùng không nhất thiết phải biết doanh nghiệp lời bao nhiêu trên mỗi lít xăng; họ cần biết mình có thể mua cùng loại xăng ở đâu với mức giá tốt hơn. Giá xăng dầu năm 2026 đã chứng minh mức độ biến động rất lớn của thị trường. Tại kỳ điều hành 24/9/2026, E10RON95-III ở mức tối đa 27.087 đồng/lít, tăng 1.451 đồng/lít chỉ trong một kỳ; diesel ở mức 30.497 đồng/lít.

Giá thành phẩm thế giới trong cùng kỳ cũng biến động rất khác nhau giữa từng loại nhiên liệu. Trong môi trường như vậy, minh bạch giá theo thời gian thực không còn là tiện ích, mà phải trở thành một bộ phận của hạ tầng thị trường.

- Vậy những thông tin nào cần được công khai, thưa ông?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, cần phân biệt rõ thông tin phải công khai cho người tiêu dùng và thông tin doanh nghiệp bắt buộc phải cung cấp cho cơ quan quản lý. Người tiêu dùng cần được thấy công khai giá bán tại từng cửa hàng, thời điểm giá có hiệu lực, chủng loại và tiêu chuẩn nhiên liệu, lịch sử biến động giá trong một khoảng thời gian nhất định, cũng như thông tin nhận dạng doanh nghiệp cung cấp.

Còn cơ quan quản lý phải có dữ liệu sâu hơn nhiều: giá mua, nguồn hàng, lượng nhập – xuất – tồn, hợp đồng mua bán, mức chiết khấu, chi phí logistics, chi phí tài chính, lượng bán, thị phần theo khu vực và quan hệ sở hữu giữa các doanh nghiệp trong chuỗi.

Tôi đặc biệt lưu ý rằng minh bạch không có nghĩa là đưa toàn bộ bí mật thương mại của doanh nghiệp lên mạng. Nếu công khai quá chi tiết giá mua hoặc chiến lược chiết khấu giữa các đối thủ, chính sự minh bạch thái quá đôi khi lại có thể tạo thuận lợi cho việc theo dõi và “bám giá” lẫn nhau.

Do đó, nguyên tắc nên là: minh bạch tối đa đối với cơ quan quản lý, minh bạch đầy đủ những gì người tiêu dùng cần để lựa chọn, nhưng bảo vệ hợp lý những dữ liệu thương mại nhạy cảm.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện hành cũng quy định trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng.

“

Trong thị trường cạnh tranh, người tiêu dùng không nhất thiết phải biết doanh nghiệp lời bao nhiêu trên mỗi lít xăng; họ cần biết mình có thể mua cùng loại xăng ở đâu với mức giá tốt hơn

PGS.TS. Ngô Trí Long

thi-truong-xang-dau-canh -tranh2
Giá dầu thế giới tăng thì giá trong nước tăng là tín hiệu thị trường bình thường. Ảnh: Mai Đình

- Cần có những công cụ giám sát và chế tài nào để ngăn chặn thỏa thuận giá, găm hàng, tạo khan hiếm giả hoặc lạm dụng vị thế thống lĩnh?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Trong cơ chế mới, tôi cho rằng giám sát không thể chủ yếu dựa trên các đoàn kiểm tra thủ công. Cần xây dựng một hệ thống cảnh báo cạnh tranh và giá xăng dầu bằng dữ liệu lớn. Khi hàng nghìn cửa hàng đồng loạt thay đổi giá, hệ thống có thể nhận biết những mô hình bất thường: Nhiều doanh nghiệp không cùng hệ thống nhưng tăng giá gần như đồng thời; giá tăng nhưng tồn kho không giảm; một số khu vực xuất hiện chênh giá bất thường; sản lượng bị rút khỏi thị trường ngay trước thời điểm tăng giá...

Từ dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu kho, nhập khẩu, vận tải và giá bán, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể xây dựng các chỉ số cảnh báo tự động. Sau đó mới đến điều tra cạnh tranh và xử phạt.

Nhà nước không định giá thay thị trường, nhưng không thể đứng ngoài thị trường

- Ranh giới giữa quyền tự định giá của doanh nghiệp và quyền can thiệp của Nhà nước nên được xác định như thế nào, thưa ông?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, nguyên tắc quan trọng là: Nhà nước không can thiệp chỉ vì giá tăng; Nhà nước can thiệp khi cơ chế thị trường không còn vận hành bình thường hoặc khi xuất hiện cú sốc đe dọa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Giá dầu thế giới tăng thì giá trong nước tăng là tín hiệu thị trường bình thường. Nếu Nhà nước cố giữ giá bằng mệnh lệnh trong thời gian dài, doanh nghiệp có thể không muốn nhập hàng, dẫn tới thiếu cung.

Nhưng nếu xảy ra chiến tranh, đứt gãy vận tải, thiếu hụt nguồn hàng nghiêm trọng, đầu cơ, găm hàng hoặc một số doanh nghiệp tận dụng sức mạnh thị trường để đẩy giá lên mức không tương ứng với chi phí thì Nhà nước phải can thiệp.

Kinh nghiệm năm 2026 cho thấy Việt Nam đã phải sử dụng nhiều công cụ cùng lúc trước biến động năng lượng quốc tế. Đáng chú ý, Nghị quyết 36/NQ-CP cho phép điều hành giá sớm khi giá cơ sở một mặt hàng tăng từ 7% so với kỳ trước thay vì chờ chu kỳ thông thường. Đến ngày 30/9/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết 43/2026/NQ-CP, có hiệu lực từ 1/10 đến hết 31/12/2026, kéo dài một số biện pháp thuế đối với xăng dầu, trong đó thuế nhập khẩu ưu đãi đối với nhiều mặt hàng tiếp tục ở mức 0%; thuế bảo vệ môi trường và chính sách VAT đặc biệt tiếp tục được kéo dài.

Đây cũng là một minh chứng rằng Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp ấn định giá để ổn định thị trường. Nhà nước còn có thể tác động thông qua thuế, nguồn cung, dự trữ, tín dụng, nhập khẩu, Quỹ Bình ổn và chính sách cạnh tranh.

Điều tôi cho rằng rất quan trọng là mọi biện pháp can thiệp bất thường phải có điều kiện kích hoạt rõ ràng, thời hạn rõ ràng và cơ chế rút lui rõ ràng. Không nên biến công cụ xử lý khủng hoảng thành cơ chế điều hành thường xuyên.

“

Thị trường có 20 hay 30 đầu mối chưa chắc đã cạnh tranh nếu phần lớn nguồn cung vẫn tập trung vào một số ít doanh nghiệp.

PGS.TS. Ngô Trí Long

- Nếu phải xác định những điều kiện tiên quyết trước khi áp dụng đầy đủ cơ chế doanh nghiệp tự quyết định giá, Việt Nam cần ưu tiên những gì?

- PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, cần hoàn thiện đồng thời năm nền tảng.

Thứ nhất là cạnh tranh thực chất. Không chỉ nhìn số lượng doanh nghiệp trên giấy, mà phải đánh giá số doanh nghiệp thực sự có năng lực tạo nguồn, khả năng cạnh tranh ở từng địa bàn và mức độ lựa chọn của người tiêu dùng. Thị trường có 20 hay 30 đầu mối chưa chắc đã cạnh tranh nếu phần lớn nguồn cung vẫn tập trung vào một số ít doanh nghiệp.

Thứ hai là đa dạng hóa nguồn cung. Hai nhà máy lọc dầu trong nước giữ vai trò rất quan trọng, nhưng Việt Nam vẫn cần nhập khẩu một tỷ lệ đáng kể. Do đó phải có nhiều nguồn nhập khẩu, dự trữ đủ mạnh và khả năng tiếp cận nguồn hàng của các doanh nghiệp độc lập. Bộ Công Thương cho biết tổng nguồn dành cho thị trường nội địa năm 2025 khoảng 28,6 triệu m³/tấn, trong khi kế hoạch tối thiểu năm 2026 đã được nâng lên gần 31,8 triệu m³/tấn.

Thứ ba là hạ tầng dữ liệu. Nếu doanh nghiệp có thể thay đổi giá nhanh trong ngày thì cơ quan quản lý không thể nhận báo cáo sau một tuần hay một tháng. Giá, tồn kho, nguồn hàng và lượng bán phải được cập nhật gần thời gian thực.

Thứ tư là giám sát cạnh tranh đủ mạnh. Cơ quan quản lý phải phân biệt được ba loại biến động: Tăng giá do chi phí khách quan, tăng giá do thiếu cung và tăng giá do quyền lực thị trường. Ba trường hợp này cần ba cách xử lý hoàn toàn khác nhau.

Thứ năm là trao quyền thực sự cho người tiêu dùng. Cần có một nền tảng giá xăng dầu quốc gia – có thể tích hợp vào ứng dụng “Quanh tôi” hoặc một hệ thống tương đương – để người dân chỉ cần mở điện thoại là biết các cửa hàng gần mình đang bán E10, diesel... với giá bao nhiêu và giá vừa được thay đổi lúc nào.

Tôi cho rằng nếu làm được những điều đó, việc để doanh nghiệp tự quyết định giá có thể trở thành một bước cải cách quan trọng. Vì thế, tinh thần của cơ chế mới theo tôi nên được cô đọng trong một nguyên tắc: “Nhà nước không định giá thay thị trường, nhưng phải kiến tạo thị trường; không can thiệp vào từng mức giá, nhưng phải kiểm soát quyền lực có khả năng chi phối giá.”

Đích cuối cùng của cải cách không phải là để mỗi cửa hàng có một mức giá khác nhau. Đích cuối cùng phải là để người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, doanh nghiệp hiệu quả hơn có thể bán rẻ hơn, còn mọi hành vi lợi dụng vị thế thị trường đều có thể được phát hiện và xử lý.

Khi đó, “mỗi cửa hàng một giá” mới thực sự là biểu hiện của cạnh tranh, chứ không phải biểu hiện của một thị trường bị phân mảnh và người tiêu dùng phải chấp nhận mức giá mà họ không có khả năng lựa chọn.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Trong 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng quản lý thị trường đã thực hiện 1.202 vụ kiểm tra liên quan chủ yếu đến việc niêm yết và bán theo giá niêm yết trong lĩnh vực xăng dầu, xử phạt hơn 1,3 tỉ đồng. Khi chuyển sang cơ chế giá linh hoạt hơn, số lượng và độ phức tạp của dữ liệu sẽ lớn hơn rất nhiều.

Vì vậy, quản lý phải chuyển từ tư duy “đi kiểm tra từng cửa hàng” sang giám sát toàn thị trường trên nền tảng số và điều tra có trọng điểm.

Nổi bật
      Mới nhất
      TS. Ngô Trí Long: 'Đích đến cuối cùng của cải cách thị trường xăng dầu là dân được lợi gì'
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO