TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Nga giúp Việt Nam xây nền tảng khoa học, Pháp mở không gian công nghệ
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga và thăm chính thức Cộng hòa Pháp từ ngày 7/9 đến 12/9/2026.
Chuyến công tác mở ra nhiều không gian hợp tác mới, từ năng lượng, dầu khí, an ninh tại Nga đến khoa học - công nghệ tại Pháp, đồng thời cho thấy cách Việt Nam chủ động đa dạng hóa và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác lớn.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, TS. Nguyễn Thanh Mỹ (sinh năm 1955) - một nhà khoa học, nhà sáng chế và doanh nhân Việt kiều Canada tiêu biểu, người tiên phong đưa công nghệ cao về Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long) cho rằng, Việt Nam cần biết cách “đứng trên vai người khổng lồ”, tận dụng thế mạnh của từng quốc gia để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu cơ bản đến công nghệ và ứng dụng thực tiễn.
“Đứng trên vai người khổng lồ” để đi nhanh hơn
- Thưa TS. Nguyễn Thanh Mỹ, nhìn từ thực tế nghiên cứu và phát triển khoa học - công nghệ hiện nay, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến Việt Nam chưa rút ngắn được khoảng cách với các nước phát triển?
- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Theo tôi, một trong những điểm nghẽn lớn là khoảng cách giữa nghiên cứu lí thuyết và khả năng triển khai thực nghiệm. Một ý tưởng khoa học muốn trở thành công nghệ phải đi qua nhiều bước, từ nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện đến sản xuất và thương mại hóa. Mỗi bước đều cần nhân lực, thiết bị, phòng thí nghiệm, dữ liệu và kinh phí.

Trong thời gian dài, nguồn lực dành cho nghiên cứu trong nước còn hạn chế, khiến nhiều nhóm khoa học khó đầu tư thiết bị, hóa chất và hệ thống thử nghiệm đạt chuẩn. Trong khi đó, tại các trung tâm khoa học lớn trên thế giới, nhiều đề tài được triển khai với nguồn lực lớn, phòng thí nghiệm hiện đại và đội ngũ chuyên gia chuyên sâu.
Vì vậy, khoảng cách không chỉ nằm ở số tiền đầu tư mà còn ở môi trường nghiên cứu và khả năng đưa kết quả khoa học vào thực tế. Việt Nam cần đồng thời củng cố khoa học cơ bản và năng lực thực nghiệm, để một công trình không dừng lại ở bài báo hay kết quả nghiên cứu mà có thể được kiểm chứng, hoàn thiện và phát triển thành công nghệ, sản phẩm.
- Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể rút ngắn con đường phát triển bằng cách nào?
- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Chúng ta không nhất thiết phải tự xây dựng tất cả từ đầu. Thế giới đã tích lũy rất nhiều thành tựu, kinh nghiệm và nền tảng khoa học qua nhiều thế hệ. Vấn đề là Việt Nam phải xác định rõ mình cần gì, từ đó tìm đúng đối tác có thế mạnh để hợp tác.

Đó là tinh thần của việc “đứng trên vai người khổng lồ”. Đứng trên vai người khổng lồ không có nghĩa là phụ thuộc, mà là tận dụng những nền tảng mà các nước đi trước đã xây dựng để đi nhanh hơn.
Điều quan trọng là nguồn lực hợp tác phải được sử dụng đúng chỗ, đến được với phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu và những dự án có khả năng tạo ra kết quả thực chất. Khi chúng ta biết chọn đúng bài toán, đúng đối tác và đúng công nghệ, thời gian phát triển có thể được rút ngắn đáng kể.
Chọn đúng đối tác, kết nối đúng thế mạnh
- Với cách tiếp cận đó, Nga và Pháp có thể mang lại những giá trị gì cho Việt Nam?
- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Mỗi quốc gia có một thế mạnh khác nhau. Nga có truyền thống rất mạnh về khoa học cơ bản, đặc biệt là Toán học, Cơ học và Vật lí. Đây là những nền tảng quan trọng để đào tạo nhân lực có tư duy khoa học và khả năng tiếp cận những bài toán công nghệ phức tạp.

Vì vậy, hợp tác với Nga không nên chỉ nhìn ở việc tiếp nhận một công nghệ cụ thể, mà cần chú trọng đào tạo nhân lực và củng cố nền tảng nghiên cứu.
Pháp lại có thế mạnh về nhiều công nghệ tiên tiến, trong đó có năng lượng hạt nhân. Đây là hướng hợp tác đáng chú ý khi Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số. Nhu cầu năng lượng cho những lĩnh vực này ngày càng lớn, đòi hỏi nguồn điện ổn định, đủ công suất và bền vững.
Các công nghệ như lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR - Small Modular Reactor) vì thế đang được quan tâm. Hợp tác với Pháp có thể giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ, đào tạo chuyên gia và chuẩn bị năng lực cho những bài toán năng lượng trong tương lai.
- Có nghĩa Việt Nam không nên tìm một đối tác có thể đáp ứng tất cả nhu cầu, mà cần kết nối thế mạnh của nhiều quốc gia?
- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Đúng. Không một quốc gia nào có thể mạnh ở tất cả các lĩnh vực. Việt Nam cần xác định rõ từng nhu cầu để tìm đối tác phù hợp.

Nga có thể đóng góp về khoa học cơ bản; Pháp có thế mạnh về công nghệ và năng lượng; Mỹ và các nước phát triển khác có nhiều kinh nghiệm về công nghệ ứng dụng, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa. Khi kết nối được những thế mạnh đó, Việt Nam có thể mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ, thay vì phải tự đi lại toàn bộ những con đường mà các nước khác đã đi trước.
Đây cũng là cách cụ thể hóa chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Nhưng điều quan trọng là mỗi mối quan hệ hợp tác phải hướng tới một năng lực cụ thể mà Việt Nam có thể tiếp nhận và phát triển.
Hợp tác quốc tế phải tạo ra năng lực Việt Nam
- Vậy làm thế nào để sau hợp tác, Việt Nam không chỉ tiếp nhận công nghệ mà thực sự làm chủ được công nghệ?
- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Thước đo không nên chỉ là chúng ta nhận được bao nhiêu thiết bị hay kí bao nhiêu thỏa thuận, mà là sau mỗi chương trình hợp tác, Việt Nam có thêm bao nhiêu chuyên gia, phòng thí nghiệm, năng lực nghiên cứu và khả năng làm chủ công nghệ.

Một thiết bị hiện đại sẽ không tạo ra nhiều giá trị nếu thiếu đội ngũ đủ năng lực vận hành, cải tiến và phát triển tiếp. Đào tạo nhân lực cũng phải gắn với môi trường nghiên cứu để tri thức có thể được chuyển hóa thành sản phẩm và công nghệ.
Điều này đòi hỏi sự kết nối giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Nhà nước tạo cơ chế; trường, viện tạo tri thức; doanh nghiệp xác định nhu cầu và đưa kết quả nghiên cứu vào thị trường.
Đích đến của hợp tác vì thế không phải là sở hữu một công nghệ nhập khẩu, mà là xây dựng được đội ngũ có thể tiếp tục nghiên cứu, cải tiến và tạo ra công nghệ mới. “Đứng trên vai người khổng lồ” không phải để đứng mãi trên vai người khác, mà để có điểm tựa nhìn xa hơn, học nhanh hơn và sau đó tự mình bước đi.
- Ông đánh giá thế nào về vai trò của ngoại giao trong việc mở rộng hợp tác khoa học - công nghệ và thu hút đầu tư công nghệ cao vào Việt Nam?
- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Tôi cho rằng đây là một lợi thế rất lớn của Việt Nam. Khoa học - công nghệ ngày nay không thể tách rời quan hệ quốc tế. Muốn tiếp cận những trung tâm tri thức, công nghệ, vốn và thị trường lớn, chúng ta cần có mạng lưới quan hệ đủ rộng và đủ tin cậy.
Việc chủ động kết nối ngoại giao với khoa học - công nghệ cũng phản ánh tinh thần “ngoại giao cây tre” của Việt Nam: mềm mại, linh hoạt nhưng vững chắc ở gốc rễ. Chúng ta có thể hợp tác với nhiều quốc gia theo những thế mạnh khác nhau, nhưng vẫn phải giữ mục tiêu xuyên suốt là lợi ích quốc gia và nâng cao năng lực của chính mình.
Ngoại giao trước hết tạo ra môi trường hòa bình, ổn định và lòng tin. Đây là điều rất quan trọng đối với các dự án công nghệ cao, bởi nhà đầu tư, doanh nghiệp và các nhà khoa học cần một môi trường có tính ổn định để theo đuổi những kế hoạch dài hạn.
Bên cạnh đó, hạ tầng của Việt Nam đang được cải thiện nhanh, từ giao thông đến các hệ thống kết nối vùng. Khi thời gian và chi phí di chuyển được rút ngắn, sự kết nối giữa các trung tâm kinh tế, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn.
Việt Nam vì thế có cơ hội trở thành điểm kết nối các nguồn lực quốc tế. Nhưng lợi thế đó chỉ thực sự có giá trị khi chúng ta biến được nguồn vốn, công nghệ và tri thức bên ngoài thành năng lực nghiên cứu, sản xuất và đổi mới sáng tạo trong nước.
Nếu làm được điều đó, hợp tác quốc tế không chỉ giúp Việt Nam đi nhanh hơn, mà còn tạo nền tảng để chúng ta từng bước tự đứng vững và tạo ra những giá trị mang dấu ấn Việt Nam.
Sau hơn 25 năm nghiên cứu tại nước ngoài và sở hữu hàng trăm bằng sáng chế, năm 2004, TS. Nguyễn Thanh Mỹ trở về quê hương thành lập Mỹ Lan Group (Trà Vinh, nay là tỉnh Vĩnh Long) để sản xuất, xuất khẩu vật liệu quang điện tử và mực in phun. Ở tuổi 60, ông tiếp tục tái khởi nghiệp với RYNAN Technologies, đi đầu trong ứng dụng IoT và AI vào nông nghiệp thông minh. Bên cạnh sự nghiệp kinh doanh, ông còn là tác giả cuốn sách truyền cảm hứng "Người Ngoài Khung" và là nhà hoạt động xã hội tích cực qua nhiều chương trình tài trợ giáo dục.



