Văn hóa - Đời sống

TS Nguyễn Thu Hạnh: Sáng tạo Việt Nam tái sinh từ những giá trị truyền thống

Lam Thanh 01/10/2025 20:36

TS-KTS Nguyễn Thu Hạnh cho hay Việt Nam may mắn sở hữu một kho báu vô tận về văn hóa, không thể để “kho báu” ấy nằm im trong viện bảo tàng hay những trang sử cũ.

Ngày 1.10 đã diễn ra tọa đàm “Công nghiệp văn hóa - Con đường mở kho báu vô tận của sáng tạo Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (S-DCI) thuộc Liên hiệp Khoa học phát triển du lịch bền vững (STDe) tổ chức.

TS-KTS Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc S-DCI, cho rằng công nghiệp văn hóa (CNVH) không chỉ là một lĩnh vực kinh tế mới mẻ, mà chính là con đường để biến kho tàng di sản, bản sắc và trí tuệ sáng tạo của dân tộc thành sức mạnh mềm và sức mạnh kinh tế. Đây là một ngành công nghiệp đặc biệt: vừa làm giàu cho đất nước, vừa nuôi dưỡng tâm hồn, vừa khẳng định vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới.

Mặt khác, CNVH là lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, ít phụ thuộc vào tài nguyên hữu hạn, gắn chặt với tăng trưởng xanh, kinh tế số và hội nhập quốc tế… hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2025 - 2035.

att.uqwhvhmbnskkaorrxwzrofobcxayjysv7wbvsaztbuy.jpeg
TS-KTS Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc S-DCI

Bà Hạnh cho hay Việt Nam may mắn sở hữu một kho báu vô tận về văn hóa. Đó là sự đa dạng của 54 dân tộc anh em, là kho tàng văn học dân gian, âm nhạc, nghệ thuật, lễ hội; là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO vinh danh, như nhã nhạc cung đình Huế, ca trù, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tín ngưỡng thờ Mẫu, và mới đây là nghệ thuật Xòe Thái.

Ngoài ra còn là những biểu tượng đã ăn sâu vào tiềm thức: chiếc nón lá, tà áo dài, bát phở, tách cà phê, hay những làn điệu quan họ, dân ca ví dặm…

Thế nhưng, theo bà Hạnh, “kho báu” ấy không chỉ nằm im trong viện bảo tàng hay những trang sử cũ. Nó là vô tận vì càng được khai thác bằng sáng tạo, nó càng mở ra những chân trời mới.

“Hãy thử nhìn vào dòng chảy hiện đại: từ áo dài cách tân trên sàn diễn thời trang quốc tế, đến rap Việt chinh phục giới trẻ toàn cầu trên nền tảng số; từ ẩm thực Việt được vinh danh trên bản đồ Michelin, đến điện ảnh Việt dần khẳng định tiếng nói riêng… Tất cả cho thấy sáng tạo Việt Nam đang không ngừng tái sinh từ những giá trị truyền thống, để bước vào dòng chảy toàn cầu”, bà Hạnh nêu.

Bà Hạnh khẳng định: CNVH chính là cây cầu kết nối giữa kho báu văn hóa với nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Nếu biết tư duy sáng tạo để nhân chuỗi giá trị, liên kết ngành hàng, tổ chức sản xuất, biết ứng dụng công nghệ, biết tiếp thị bằng chiến lược sáng tạo, chúng ta có thể biến bản sắc Việt thành những sản phẩm - dịch vụ có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh và lan tỏa toàn cầu.

Thế giới đã có những minh chứng rõ ràng: Hàn Quốc đã xây dựng được làn song Hallyu với K-pop, điện ảnh, thời trang, ẩm thực, và ngành CNVH nước này đóng góp hàng chục tỉ USD mỗi năm. Nhật Bản với manga, anime và văn hóa ẩm thực đã trở thành một cường quốc văn hóa.

“Việt Nam cũng có đầy đủ tiềm năng như thế, nếu chúng ta biết khơi dậy và đầu tư đúng hướng. Bởi vậy, khi nói CNVH - con đường mở kho báu vô tận của sáng tạo Việt Nam, chúng ta không chỉ khẳng định tiềm năng, mà còn gửi gắm một thông điệp: hãy cùng nhau biến kho báu ấy thành động lực phát triển”, bà Hạnh nêu.

z7070679114269_72ef4763a4bf0c01b61e3c0a41768962.jpg
Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Bà Hạnh nêu rõ, văn hóa là gốc rễ, sáng tạo là chìa khóa, còn công nghiệp văn hóa chính là cánh cửa mở ra tương lai thịnh vượng và hội nhập. Kho báu sáng tạo Việt Nam là vô tận. Nhưng kho báu ấy chỉ thực sự tỏa sáng khi chúng ta cùng nhau đánh thức, gìn giữ và đầu tư cho nó bằng khát vọng lớn lao.

“Điều này để mỗi sản phẩm văn hóa Việt không chỉ là niềm tự hào trong nước, mà còn trở thành món quà cho thế giới, một dấu ấn mang thương hiệu Việt Nam”, bà Hạnh nhấn mạnh.

Ông Trương Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội UNESCO Hà Nội, đồng tình, chính nhận thức về tầm quan trọng của phát triển công nghiệp văn hóa ở các cấp, ngành và cộng đồng dân cư chưa đồng đều, nên việc triển khai trong lĩnh vực này cũng chưa đồng đều.

Theo ông Tiến, mới có một số tỉnh, thành phố đạt được kết quả rõ nét như: Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Ninh Bình...

“Chúng ta đang thiếu khung pháp lý đầy đủ và cơ chế, chính sách đồng bộ để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Ví dụ như: chính sách ưu đãi về đất đai (quy hoạch quỹ đất, tiền thuê và thời hạn thuê đất…); chính sách về tài chính (miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi tín dụng, quỹ hỗ trợ sáng tạo...)”.

GS-TS Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế quốc dân, phân tích thêm chiến lược đã có nhưng nhiều chính sách chưa được luật hóa; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ yếu, gây rủi ro cho doanh nghiệp và giảm động lực sáng tạo. Thiếu nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao, lao động trẻ dồi dào nhưng thiếu kỹ năng trong thiết kế, nội dung số, marketing sáng tạo...

Ông Đạt đề xuất 4 giải pháp ưu tiên trong giai đoạn 2025 - 2035 gồm: hoàn thiện thể chế, nghiên cứu sớm ban hành Luật Công nghiệp văn hóa và cơ chế tài chính đặc thù; đột phá trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sáng tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp; hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, gắn với du lịch và thương hiệu quốc gia; thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ 4.0 để mở rộng thị trường toàn cầu.

Nổi bật
      Mới nhất
      TS Nguyễn Thu Hạnh: Sáng tạo Việt Nam tái sinh từ những giá trị truyền thống
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO