Tuyên ngôn Độc lập - những giá trị vĩnh hằng
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Những lời mở đầu của bản tuyên ngôn lịch sử vĩ đại 81 năm trước vẫn vang vọng non sông.
Kết quả từ những hi sinh xương máu và sự tin tưởng của nhân dân
Tuyên ngôn Độc lập trước hết là kết quả của biết bao hi sinh xương máu của các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Kể từ khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng cuối năm 1858 đến năm 1945 là gần 90 năm. Trong khoảng thời gian dài đằng đẵng ấy, máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước đã đổ xuống vì khát vọng độc lập dân tộc. Những nội dung cơ bản nhất của Tuyên ngôn là sự kế thừa những khát vọng của dân tộc đã được đề cập từ bản Yêu sách tám điểm năm 1919 mà Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước ở Paris gửi đến Hội nghị Versailles đòi quyền dân tộc và tự quyết của nhân dân Việt Nam.
Tuyên ngôn kế thừa những nội dung cơ bản trong Chương trình Việt Minh năm 1941. Không thể không khẳng định rằng, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là kết quả của bao hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ, là kết tinh sức mạnh, ý chí và niềm tin của toàn dân tộc “đó là tác phẩm của nhân dân, được làm bằng máu thịt của nhân dân, anh hùng là nhân dân” (Nguyễn Văn Nguyễn - Tháng Tám trời mạnh thu”.


Tác phẩm chân lí của thời đại
Tuyên ngôn Độc lập kế thừa và phát triển đầy đủ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam như đức hi sinh, lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất không chịu cúi đầu làm nô lệ. Đó là sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của ông cha mà điểm sáng chói là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; là trí tuệ và bản lĩnh văn hóa Việt Nam với khát vọng thiêng liêng nhất là đấu tranh để giành độc lập, thống nhất đất nước và giành lại những quyền cơ bản của con người: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”.
Đó là tinh thần nhân văn cao cả, tinh thần hòa hiếu của người Việt Nam. “Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ”. Tất cả những giá trị cao cả này chứng thực một chân lý: Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm của chân lí thời đại.
Bản tuyên bố pháp lí về nền độc lập của dân tộc
Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Từ quyền của mỗi con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh suy ra quyền của mỗi dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Vì vậy, “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Khẳng định những chân lí từ những bản tuyên ngôn lịch sử nổi tiếng của nhân loại để khẳng định chân lí của thời đại, khẳng định “những lẽ phải mà không ai chối cãi được” về những quyền thiêng liêng bất khả của con người, của các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam.
Tự hào về quá khứ, hướng tới tương lai tươi sáng
81 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng, đoàn kết và ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, đất nước ta, dân tộc ta đã tiến những bước tiến dài trên con đường phồn vinh, hạnh phúc.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để đạt tới mục tiêu ấy, ngoài sự lãnh đạo của Đảng rất cần tinh thần đoàn kết, phấn đấu của toàn dân tộc. Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay vừa tròn 40 năm đổi mới đất nước.
Sau 40 năm đổi mới đất nước, thế và lực của đất nước đã lớn mạnh hơn rất nhiều song vẫn còn đó nhiều những thách thức mà Đại hội XIV đã chỉ ra như: Những điểm nghẽn nội tại; áp lực phát triển nhanh và bền vững; cạnh tranh gay gắt, nguy cơ tụt hậu; biến đổi khí hậu, rủi ro “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Công cuộc sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đã được thực hiện với tinh thần thần tốc và đi vào hoạt động hơn 1 năm qua, song vẫn còn rất nhiều việc phải làm để ổn định và hoàn thiện bộ máy…Trong bối cảnh mới hiện nay, hơn lúc nào hết chúng ta lại cần sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc của 81 năm về trước…
Cùng với Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt (năm 1077), Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi (năm 1428), Tuyên ngôn độc lập là áng “thiên cổ hùng văn” bậc nhất của lịch sử Việt Nam, là bản tuyên bố pháp lí, là áng văn lập quốc vĩ đại, là thành quả của biết bao hi sinh, mất mát của dân tộc Việt Nam suốt hàng trăm năm bị thực dân, phong kiến đô hộ. Từ lời thề độc lập của mùa thu năm 1945 về quyết tâm của cả dân tộc trong việc bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, Tuyên ngôn sẽ mãi là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng đất nước bước vào kỷ nguyên mới, cho công cuộc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam hôm nay và mai sau.